2. Ảo giác thưởng thức nhạc TCS
"Hạnh phúc là một tách café và nhạc TCS."
Đó là một trong những định nghĩa về hạnh phúc, ghi
lại được trong một tuyển tập những bài nhận định về âm nhạc và con
người TCS, ấn hành ở Việt nam (Một Cõi Trịnh Công Sơn, nxb Thuận Hóa,
12/2002). Tôi không rõ người nói hay viết câu ấy đã căn cứ vào đâu để
đưa ra định nghĩa này. Thực trạng đời sống và sinh hoạt ở trong nước
chắc. Bao nhiêu là quán xá lớn, nhỏ ở ngoài đường, trên phố thường
xuyên "chơi" nhạc TCS để thu hút khách, để những người khách bước vào
đó tìm kiếm chút hạnh phúc.
Hạnh phúc như thế thì cũng đơn giản. Ngồi quán hay
ngồi nhà, người ta cũng có thể có được những phút giây trầm tư nhìn
từng giọt café chảy từng giọt, từng giọt, trong lúc lắng nghe tiếng
nhạc TCS, để suy gẫm chuyện đời, để chiêm nghiệm về cõi sống cõi chết,
về phận người phận mình, hay chỉ để ngậm ngùi tiếc thương về một cuộc
tình đã mất, để thấy...
tình đi âm thầm, nghìn trùng như vết sương...
tình ngỡ đã phôi pha, nhưng tình vẫn còn đầy...
lòng ta trăm con hạc gầy vút bay...
ta như con đường dài vắng người...
đời mình là những quán không...
tôi chợt nhìn ra tôi..., tôi tìm thấy tôi...
Tôi tìm thấy tôi. Như thế không phải là hạnh phúc
sao? Khi con người cảm thấy hạnh phúc, đấy là hạnh phúc, dù chỉ phút
giây thôi "cũng đủ lãng quên đời". Âm nhạc TCS, như thế, theo một
nghĩa nào đó, vẫn luôn góp mặt trong những sinh hoạt của cuộc sống
thường ngày. Ở đây lại gợi mở ra vấn đề khác nữa, âm nhạc và đời sống.
Phải chăng, cho dù cuộc sống có nổi trôi, có bôn ba "đời cơm áo",
người ta vẫn không thể quên đi âm nhạc, vẫn không thể sống mà thiếu âm
nhạc, vẫn muốn đi tìm chút hạnh phúc nhỏ nhoi trong âm nhạc.
Nhạc TCS, và café, và khói thuốc, và men bia men
rượu,... và tất cả những gì cộng thêm vào, thêm vào, đều có tác dụng
làm tăng thêm ảo giác về một hạnh phúc... vô thường.
"Hạnh phúc là..." , câu
định nghĩa trên có thể đúng theo nghĩa ấy, hay ít ra cũng đúng với
những người cùng chia sẻ khoảnh khắc hạnh phúc ấy, cái khoảnh khắc
được sống, được làm "người đi trên mây" (nói theo nhà văn
Nguyễn Xuân Hoàng), có nghĩa là được thả trôi bềnh bồng hay đắm chìm
trong một màn sương ảo giác.
Hiểu hay không hiểu :
Đặc điểm nổi bật trong ca từ TCS là tính... mơ hồ.
Khi hát hay nghe nhạc TCS, chúng ta cho là chúng ta hiểu nhưng đồng
thời chúng ta cũng không chắc là chúng ta hiểu. Đôi chỗ hiểu, đôi chỗ
không hiểu; đôi lúc hiểu, đôi lúc không hiểu. Hiểu ít hiểu nhiều, hiểu
đúng hiểu sai, vừa hiểu lại vừa không hiểu, tất cả cứ lẫn vào nhau nên
ta không thể biết chắc là ta hiểu hay không hiểu.
Hiểu như thế nào gọi là hiểu? Hiểu như thế nào là
hiểu đúng? Lấy đâu ra câu trả lời. Có khi mỗi người hiểu một cách,
chẳng ai giống ai, chẳng biết ai đúng ai sai. Thành thử, hiểu cách nào
cũng chỉ là hiểu theo cách riêng của mình, không thể nói người này
hiểu đúng, người kia hiểu sai. Nghe nhạc TCS, vì vậy, tưởng khó hiểu
mà thành ra dễ hiểu, vì muốn hiểu sao thì hiểu, không hiểu cũng không
sao, cũng không cần phải cố gắng để hiểu, miễn cứ thích nghe thích
hát, miễn cứ thấy... hay là được!
Không hiểu, hay không hiểu rõ lắm nhưng vẫn làm như
hiểu, vẫn làm ra vẻ thông thái, uyên bác như là thông hiểu hết mọi lẽ,
mọi chuyện (những vô thường, vô vi, hư vô, hư ảo...). Cái tâm lý ấy
khá phổ biến, cũng chẳng khác mấy hiện tượng "làm dáng trí thức" của
các chàng sinh viên ở miền Nam một thời, vẫn thích kè kè trên tay
những pho sách dày cộm nói về những "mặt trời không bao giờ có thiệt",
những vực sâu và "hố thẳm của tư tưởng" (tương tự "đỉnh cao của trí
tuệ", nói theo ngôn ngữ khoa trương ở trong nước bây giờ), dù có khi
chẳng hề đọc lấy một chữ nào. Nếu có khác thì đấy chỉ là một kiểu thời
trang, có tính giai đoạn, trong lúc "hiện tượng" TCS kéo dài trường
kỳ, nhiều năm, lại phổ biến rộng rãi hơn, không hạn chế trong một
giới, một đối tượng nào. Có phải là âm nhạc chiếm ưu thế hơn hay còn
do những yếu tố nào khác nữa(?).
Kể ra, không hiểu thì cũng khó mà thấy hay, thấy
đẹp, khó mà thấy thích được. Trước hết, cần phải hiểu mới nói chuyện
được. Cũng không thể nói "tôi hiểu mà tôi nói không được". Nói như thế
là vẫn chưa thực sự hiểu, là vẫn chỉ hiểu đại khái, là vẫn còn mơ hồ.
Khen hay, phải nói được tại sao hay, hay ở chỗ nào. Chê dở, cũng phải
nói được tại sao dở, dở ở chỗ nào. Liệu người ta có thể yêu cái mà
người ta không hiểu rõ lắm, không biết rõ là cái gì, và cũng không cần
tìm hiểu cho ra lẽ, như yêu tranh lập thể, yêu thơ tự do, yêu nhạc
giao hưởng, và... nhạc TCS?
Ca từ TCS, như chính tác giả thú nhận "... bản
thân tôi cũng thấy khó giải thích. Viết thì viết vậy nhưng để giải
thích rõ ràng thì thật là khó." (3)
Thế nghĩa là sao? Người nghe không hiểu, người hát
không hiểu, người viết ra những lời ấy cũng... chỉ hiểu mơ mơ màng
màng, cũng chẳng biết đằng nào mà giải thích. Vậy thì ai hiểu, ai giải
thích được đây? Có lẽ nào cả ba ta (người nghe, người hát, người viết)
đều chẳng ai hiểu... ai cả. Đến chỗ này mới thật là.. khó hiểu!
TCS, không khéo ta bị ông chơi khăm mất. Hệt như một
người ra câu đố hóc búa, những người khác bấm đầu nặn óc suy nghĩ, sau
cùng hoặc chịu thua, hoặc đưa ra những lời giải đoán khác nhau, đến
lúc mọi người yêu cầu giải đáp thì người ra câu đố trả lời tỉnh queo
"tôi cũng không biết, tôi cũng... chịu thua". Thế không phải
chơi khăm là gì?
Chưa hết, người viết những ca từ ấy còn cho biết
là "cần phải có một linh cảm nhạy bén và một vốn kiến thức nhất định"
(3) mới có thể hiểu được cái hay, cái đẹp trong những ca khúc TCS.
"Tôi gặp không ít người," ông nói thêm, "dù họ ít học nhưng
họ lại thích, hỏi họ có hiểu không thì họ trả lời không hiểu, nhưng họ
lại cảm nhận được có một cái gì đó ở bên trong, nên khi nghe hay khi
hát lên thì có một điều gì đó chạm đến trái tim của mình..." (3)
Liệu đúng là "có một điều gì đó chạm đến trái tim
của mình" hay không, tôi không được rõ lắm, thế nhưng qua lời ông
tôi biết được một điều: kẻ "ít học" thì không cách chi hiểu
được những lời lẽ ấy. Nhạc TCS, như vậy chỉ dành cho đối tượng có chọn
lọc. Kẻ hiểu được và biết thưởng thức phải là đối tượng "học nhiều
hiểu rộng". Ở đây lại có vấn đề "trình độ" kiến thức, khiếu
thẩm mỹ và thưởng ngoạn nghệ thuật nữa chứ không phải chơi. Từ đó, tâm
lý tỏ ra am hiểu (do đóng kịch, giả vờ, tự đánh lừa mình) có phát sinh
cũng là chuyện tự nhiên, thường tình. Dần dà, lâu ngày, tâm lý tiềm ẩn
ấy phát triển thành một dạng thức mà nhà văn Nguyễn Mộng Giác gọi là
"ảo giác của trí tuệ". Chẳng ai muốn thú nhận cái vốn học ít ỏi
của mình, cho dù có ít ỏi thật. Dẫu không hiểu cũng phải cố làm ra vẻ
hiểu. Còn kẻ "học nhiều hiểu rộng" thì lại càng muốn chứng tỏ
cái sở học mênh mông của mình, chẳng biết nông sâu cỡ nào nhưng chắc
chắn là phải vượt xa tầm hiểu biết hạn hẹp của những kẻ
"ít học"...
Thế nhưng, đến khi tác giả TCS "thật thà khai
báo" là "viết thì viết vậy" chứ cũng không rõ là... viết
cái gì(!), thì kẻ "học ít" lẫn kẻ "học nhiều" đều hụt
hẫng, chới với, xính vính, nhất là kẻ "học nhiều" , vì lỡ bộ.
Tưởng ông biết, hóa ra ông trả lời không biết. Tưởng ông hiểu, nào ngờ
ông nói ông không hiểu. Kẹt quá. Ông không hiểu ông thì tôi làm sao
hiểu ông được. Giá như ông cứ nhận bừa là ông hiểu đi thì hay biết
mấy, khỏi rắc rối, đỡ phiền phức. Tương tự, sau khi triết lý đủ thứ về
cuộc sống, về tình yêu, về thân phận con người..., ông kết luận gọn
gàng, ngon ơ: "đường trần... đâu có gì!" (Phôi Pha).
TCS, ông quả là có máu hài hước, chẳng thế mà ông
vẫn thích đùa nghịch, thích trò chơi nhào lộn, tung hứng chữ nghĩa
trong ca từ của ông:
Trong khi ta về lại nhớ ta đi...,
hoặc
Em là tôi và tôi cũng là em..., hoặc
Nào có cái chết đầu tiên, đâu có cái chết sau cùng..., hoặc
Còn hai con mắt khóc người một con
Còn hai con mắt một con khóc người...
Về phía người nghe TCS, điều rõ ràng là, thưởng thức
nhạc với tâm lý như đã nói ở trên thì đâu có cần chi hiểu hay không
hiểu.
Hát sai, hát đúng:
Về phía người nghe là như vậy, thế còn phía người
hát, người trình diễn thì sao? Cũng chẳng khác bao nhiêu, cũng hiểu
đúng hiểu sai, hiểu đại khái, hoặc... không hiểu. Vì vậy mới có không
ít trường hợp ca sĩ hát lung tung, thay lời đổi chữ vô tội vạ, trong
lúc ra điệu bộ, nhắm mắt nhắm mũi, khoa tay khoa chân trong một cố
gắng để diễn tả điều mà người hát có khi... chẳng hiểu gì cả. "Hát thì
hát vậy...", nói theo lối TCS, thì làm sao mà lôi cuốn, mà truyền được
cảm xúc cho người nghe. Chuyện hát đúng hát sai kể ra không hết, có
khi chỉ thay đổi, thêm, bớt một chữ thôi cũng làm thay đổi hẳn ý nghĩa
câu hát, làm mất đi ít nhiều "chất" TCS, chẳng hạn:
Chữ mong trong "đời ta hết mong
điều mới lạ" (Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ) được nhiều ca sĩ đổi thành
mang (... hết mang điều mới lạ). Hai chữ này khác nghĩa
chứ đâu phải chỉ khác một nguyên âm, và cái hay là ở chữ "mong"
chứ "mang" thì chẳng có gì... "mới
lạ".
Chữ miệng trong "miệng cười khúc khích
trên lưng" (Quỳnh Hương) được nhiều ca sĩ đổi thành nụ
(nụ cười khúc khích...). Nụ cười thì không thể... khúc khích được,
và cũng không hình dung được chiếc cằm xinh xắn của cô bé tựa trên
lưng chàng trai...
Chữ em trong "em qua công viên mắt em ngây
tròn" (Còn Tuổi Nào Cho Em) được ca sĩ KL đổi thành nai
(... mắt nai ngây tròn). Mắt nai, mắt phượng, mắt bồ câu không
thuộc về ngôn ngữ TCS. Ông có những cách để tả về đôi mắt nai mà không
cần phải nói "mắt nai".
Chữ vầng trong "trên hai vai ta đôi vầng
nhật nguyệt" (Một Cõi Đi Về) được ca sĩ DT đổi thành vòng
(... đôi vòng nhật nguyệt). Ở đây là vầng thái dương, vầng
trăng, chứ không phải vòng trời đất, vòng càn khôn... Hơn nữa, vầng
thì còn "rọi suốt trăm năm..." được chứ vòng thì... chịu.
Chữ tim trong "con tim yêu thương vô tình
chợt gọi" (Một Cõi Đi Về) được rất nhiều ca sĩ đổi thành
tinh (con tinh yêu thương...) , khiến nhạc TCS đôi lúc
biến thành nhạc... kinh dị! Lỗi là lỗi in ấn khá phổ biến ở các tập
nhạc, có điều người hát vẫn cứ hát tỉnh queo, người nghe vẫn cứ nghe
thoải mái mà không có ý kiến, mặc dù ai cũng biết "một cõi đi về" vẫn
còn là cõi dương chứ chưa phải cõi âm nên không dễ gì có chuyện ma
quái, yêu tinh hiện hình giữa ban ngày.
Trong nhiều trường hợp, chữ hay nhất, "đắt" nhất
trong câu bị tráo đổi không thương tiếc, làm hỏng một câu hát (có khi
làm hỏng cả một bài hát), khiến người nghe bị "khựng" lại như bất ngờ
nhai phải hạt sạn trong lúc đang thưởng thức bữa cơm ngon miệng:
Chữ phút trong "vội vàng thêm những phút
yêu người" (Chiếc Lá Thu Phai) được ca sĩ TVT (cô em gái TCS) và
nhiều ca sĩ đổi thành lúc (... những lúc yêu người) làm
giảm mất cái hay và ý nghĩa rất nhiều, vì không diễn được cái ý
"vội vàng" và "yêu từng... phút, giây" , như muốn chạy đua
với chiếc kim thời khắc của tình yêu. Tương tự, chữ phút trong
"có chút lệ nhòa trong phút hôn nhau" (Bay Đi Thầm Lặng) cũng
không thể đổi thành lúc được. "Phút" (không phải "lúc"), đó mới
là ngôn ngữ TCS.
Chữ suốt trong "rọi suốt trăm năm một cõi
đi về" (Một Cõi Đi Về) được các ca sĩ TN, DT... đổi thành xuống
(rọi xuống trăm năm...)cũng làm giảm mất cái hay và ý nghĩa rất
nhiều (cứ làm như rọi là phải rọi xuống chứ không rọi... lên được).
"Suốt" (không phải "xuống"), đó mới là ngôn ngữ TCS.
Nhiều trường hợp khá buồn cười: một ca sĩ hát sai vì
quên lời, những ca sĩ khác hát sai theo, riết rồi không ai buồn sửa
lại cho đúng. Ví dụ: ca sĩ hát đến câu "thành phố hoang vu như..."
(Tình Xa) thì không nhớ được là "hoang vu như..." thế nào(?),
hay chỉ nhớ mang máng, đành hát bừa "hoang vu như... một lần qua
cuộc tình". Thế là từ đó các ca sĩ khác cũng hát theo như vậy
cho... tiện. Ca sĩ KL nghe vậy không chịu, bèn... đảo ngược lại, thành
ra "... như... cuộc tình qua một lần". Đổi qua đổi lại, sai vẫn
cứ sai. Câu đúng là "thành phố hoang vu như đời mình, như cuộc
tình", chứ không có "đi qua, đi lại", "một lần, hai lần" gì
cả!
Hoặc, một số ca sĩ thích thêm chữ vùi vào
cuối câu hát "không có ai đời đời ru anh ngủ..." (Hát Cho Người
Nằm Xuống) để trám một nốt nhạc bỏ trống (mà không rõ dụng ý của người
nhạc sĩ cố ý chừa một khoảnh khắc yên lặng ở cuối câu nhạc để làm đọng
lại cảm xúc, rồi mới chuyển sang ý tiếp "... mùa mưa tới, trong
nghĩa trang này có loài chim thôi". Hơn nữa, ta nói "ru em
ngủ", "ru anh ngủ", hoặc "anh ngủ vùi", "anh ngủ say"...,
chứ không nói "ru anh ngủ vùi", "ru anh ngủ
say", "ru anh ngủ ngon"...
Có trường hợp ca sĩ thay lời đổi chữ trong câu hát
vì muốn làm tốt hơn, nhưng vẫn... không tốt hơn được, chẳng hạn ca sĩ
TN hát đến câu "có khi nắng khuya chưa lên" (Chiều Một Mình Qua
Phố), thấy... không ổn (làm gì có "nắng khuya" bao giờ), bèn
đổi thành "... nắng mưa chưa lên", nhưng nghe... vẫn không ổn
(ta nói "nắng lên" chứ không nói "mưa... lên". "Mưa xuống" thì được).
Lại có những bài nhạc mà ca từ được thay đổi tùy
hứng, tùy tiện, đến... vô nghĩa.
"Đừng tuyệt vọng, em ơi đừng tuyệt vọng. Em là tôi
và tôi cũng là em..." (Tôi Ơi, Đừng Tuyệt Vọng), câu hát ấy được ca sĩ
TL đổi thành "... anh ơi đừng tuyệt vọng. Anh là tôi, và tôi cũng
là... ai?" Câu hát vốn khó hiểu lại được làm cho thêm... khó hiểu!
(Câu dưới may mà chưa được đổi thành "anh hồn nhiên, rồi anh sẽ
bình minh..." ). Đã thế tiết tấu bài nhạc cũng thay đổi (rộn ràng,
sôi nổi), đánh mất khí hậu của bài hát là bức tranh ảm đạm của buổi
tàn thu. Nội dung bài hát, như tác giả TCS cho biết, là "nỗi lòng của
kẻ tuyệt vọng".
"Tôi Ơi, Đừng Tuyệt Vọng"
không phải dễ hát đâu. Thử nghe kỹ, để ý những nốt nhạc
"quạnh quẽ", "nhè nhẹ"...
có đường xa và nắng chiều quạnh quẽ
có hồn ai đang nhè nhẹ sầu lên...
Không phải chất giọng Huế đố hát được những chỗ này.
Chỉ giọng Huế mới nghe ra "quạnh quẽ", "nhè nhẹ". Lại còn phải
hát thế nào để diễn tả cho được nỗi niềm của kẻ đang mấp mé bên bờ
tuyệt vọng.
Con diều bay mà linh hồn lạnh lẽo, con diều rơi
cho vực thẳm buồn theo... Con diều bay, đó
là mảnh linh hồn vật vờ, là cánh lá khô héo úa của mùa thu "rơi rụng
giữa mùa đông".
Về lối trình diễn, thường thì ca sĩ tùy nghi thể
hiện, ra điệu bộ, uốn éo, làm duyên làm dáng. Kỹ thuật ngân nga, luyến
láy cũng tùy tiện, khi ngẫu hứng có thể bẻ quặt một nốt nhạc, gào rú
điên loạn với giọng đớt đớt "đá đa, đá đa đa..." để diễn tả cơn
sướng ngất của "tìm nhau trong hạnh phúc vô thường" ở cuối bài
"Còn Mãi Tìm Nhau", như phong cách biểu diễn của một vài ca sĩ ở trong
nước. Tất cả, đều là những lối diễn xuất giả tạo, vô hồn.
Chuyện ca sĩ hát sai lời là phổ biến, ở đây không có
ý bình phẩm công việc "ca hát ngày tháng cho người mua vui" của người
nghệ sĩ mà chỉ cốt, qua ít ví dụ kể trên, nêu lên một trong những biểu
hiện của lầm lạc trong nhận thức, do không hiểu, không hiểu rõ hoặc
không hiểu đúng. Thực tế, người hát muốn hát sao cũng được, hát thế
nào cũng xong, vì người nghe vốn dễ dãi, ít có để ý chuyện đúng, sai.
Cũng vì ít có để ý, cứ hát là hát, cứ nghe là nghe
thôi, nên có những chỗ dễ hiểu mà ít ai chịu hiểu. Một người bạn hỏi
tôi: "'Một cõi đi về' là đi về... đâu?". Thực ra, nghĩa hai chữ
"đi về" ở đây không phải như là "đi về đâu hỡi em, khi lòng không
chút nắng..." (Đời Gọi Em Biết Bao Lần). "Một cõi đi về"
được hiểu và có thể viết lại là "một cõi đi, về" (có dấu phẩy [,] giữa
hai chữ "đi" và "về"), có nghĩa là "một cõi đi và về ". Tương tự, có
thể viết lại: "có hai mùa vẫn đi, về" (Em Còn Nhớ Hay Em Đã
Quên), hoặc "lặng nghe gió đi, về" (Lời Buồn Thánh), hoặc
"đi, về một mình tôi" (Một Ngày Như Mọi Ngày). Tương tự, có thể
viết lại: "về đây đứng, ngồi" (Chiếc Lá Thu Phai), có nghĩa là
"về đây hết đứng lại ngồi". Hoặc "xe, ngựa về ngủ say"
(Một Ngày Như Mọi Ngày), có nghĩa là "xe và ngựa..." (không
phải là xe ngựa, xe bò). Hoặc "mười năm tắm, gội" (Chiếc Lá Thu
Phai), có nghĩa "...tắm và gội". Hoặc "có con đường nằm nghe
nắng, mưa", và "có con đò chở nắng, mưa đi" (Em Còn Nhớ Hay Em
Đã Quên) đều có nghĩa "nắng và mưa".
Ca từ TCS, như chính tác giả phát biểu, "thực sự
không dễ hiểu", vì thế, cũng chẳng biết như thế nào gọi là hiểu.
Thôi thì hiểu tới đâu hay tới đó, hiểu sao cũng được, không hiểu được
cũng... không sao.
Thơ hay không thơ :
Saigon xua tan nghìn dấu lệ
Cho em bây giờ mắt tình đưa...
Nếu không biết là hai câu trên ở trong một bài hát
của TCS (Hai Mươi Mùa Nắng Lạ), nhiều người dễ tưởng đấy là hai câu
thơ. Tôi vẫn thích những câu "thơ" như trên, thỉnh thoảng nhặt được
trong ca từ TCS, thế nhưng, nói rằng TCS là "nhà thơ" như nhiều người
vẫn gọi, tôi lại không mấy tán đồng. "TCS là nhà thơ", đấy cũng là
chuyện "một người nói, nhiều người nói theo". Nói ông có tâm hồn thơ,
hoặc ca từ của ông nghe rất "thơ" thì ai cũng dễ dàng đồng tình. Phong
tặng cho ông nhiều danh hiệu quá, đôi lúc khá dễ dãi, e không nên, vì
đặt bên cạnh "nhạc sĩ TCS", cái "nhãn hiệu" đã trở thành phổ biến và
quen thuộc đối với rất nhiều người, những danh hiệu ấy thực sự chẳng
mang ý nghĩa gì cả. Khoác thêm cho ông bất cứ danh hiệu nào khác nữa
đều không có tác dụng gì nhiều lắm và cũng không làm cho ông nổi tiếng
hơn. (Ca từ của nhạc sĩ Văn Cao chẳng hạn, những Bến Xuân, Thiên Thai,
Suối Mơ... cũng rất "thơ", rất đẹp, tựa như "bài thơ bên suối" vậy.
Không chỉ viết nhạc, người nghệ sĩ tài hoa ấy còn vẽ tranh, còn làm
thơ, thế nhưng gọi ông là họa sĩ hay thi sĩ Văn Cao, có khi người ta
tưởng nói đến... ông Văn Cao nào khác, vì ông quá nổi tiếng như là một
nhạc sĩ). Nhạc sĩ TCS, thế là đủ. Hoặc, cứ gọi ông là... TCS, không
cần phải nhạc sĩ, thi sĩ gì cả, người ta đủ biết ông là ai. Có lẽ ông
cũng chỉ muốn như vậy. Không nên bắt ông nhận một lúc đến mấy danh
hiệu, ông chẳng thiết tha gì, và cũng chẳng sợ ai dành mất những danh
hiệu ấy.
Tất nhiên, ai muốn gọi sao thì gọi, muốn phong cho
ông tước hiệu gì thì phong. Hôm nay ông là "thi sĩ", ngày mai người ta
cũng có thể gọi ông là "văn sĩ" (không rõ ngoài "Chú Lộ", ông có viết
thêm truyện ngắn truyện dài nào), là "họa sĩ" (ông từng vẽ tranh và có
triển lãm tranh chung với những người bạn họa sĩ), là "ca sĩ" hay "ca
nhạc sĩ" (đã từng có người nói "không ai hát nhạc TCS hay bằng TCS"!),
là "triết gia" (ông từng đưa triết học vào âm nhạc, và trông ông cũng
có vẻ là một triết nhân lừng khừng), và là... "đạo sĩ" nữa không chừng
(trông ông cũng có cốt cách, phong thái của các ông Bùi Giáng, Phạm
Thiên Thư... lắm chứ!).
TCS, trước hết ông phải là một nhạc sĩ, là người
viết ca khúc (phản chiến, tình yêu, quê hương, thân phận...). Nếu ông
là nhà thơ thực sự thì ta đã thấy những thi phẩm "Thơ TCS tập 1, tập
2..." vân vân bày bán ngoài các tiệm sách, chứ không phải là những ca
khúc, những tình khúc TCS. Trời không sinh ra ông để làm thi sĩ, và
ông cũng đã chọn con đường sáng tác nhạc chứ không phải sáng tác thơ.
Nếu đôi lúc ông có những phút ngẫu hứng mà phóng bút làm thơ hay vẽ
tranh thì cũng chỉ là những bước dạo chơi sang khu vườn nhà hàng xóm.
Tất nhiên, chẳng ai cấm một nhạc sĩ làm thơ, hoặc một thi sĩ sáng tác
nhạc (thực tế, đã có nhiều nhà văn nhà thơ lạc bước sang khu vườn âm
nhạc). Người ta gọi ông là "nhà thơ", đơn giản chỉ vì trong nhạc ông
có "thơ". Điều này thực ra chưa đủ để ông nhanh chóng biến thành một
nhà thơ. Đã có người từng nêu thắc mắc với ông, "Sao nhạc của ông nghe
'thơ' quá vậy? Ông có làm thơ bao giờ chưa?" Và ông trả lời, "Đối với
tôi, âm nhạc cũng là thi ca. Đôi lúc ngẫu hứng và vui với bạn bè tôi
cũng làm thơ. Những bài thơ, tiếng Việt và tiếng Pháp, thường được làm
trong quán rượu và thường bị tôi quên đi..."(3) Hơn thế nữa, đâu có
riêng gì TCS, trước ông, ta từng có nhiều nhạc sĩ mà tâm hồn rất thi
sĩ và ca từ của những vị này cũng rất "thơ" nữa (ai cũng có thể kể tên
ra được), nhưng trước sau họ vẫn là nhạc sĩ. Có thể nói, trong mỗi ông
nhạc sĩ của chúng ta đều ít nhiều có một ông thi sĩ. Hiểu theo nghĩa
ấy, ta mới có được cái nhìn đúng đắn, không lẫn lộn giữa nhạc và "thơ"
TCS.
Cho em bây giờ mắt tình đưa...
Nghe câu ấy là phải nghe câu hát (chứ không nghe câu
thơ) mới "nghe" hết cái hay.Nốt láy mỏng ở chữ "tình" nghe như cái
liếc xéo của đuôi mắt thật bén, thật ngọt...
Có chút lệ nhòa trong phút hôn nhau
Có những vực bờ chôn theo tình đầu
Đấy cũng là câu hát. Nếu là câu thơ, "vực bờ" sẽ đổi
ra "vực sâu". Câu hát không đổi được, vì lệ thuộc vào âm vực thấp cao,
trầm bổng của nốt nhạc.
Trong ca từ TCS, người ta dễ dàng tìm thấy những câu
"thơ" rải rác. Thơ lục bát, thơ ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám chữ, và cả
thơ... tự do nữa. Có những bài hát đẹp như một bài thơ (Nắng Thủy
Tinh, Như Cánh Vạc Bay, Nguyệt Ca, Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ, Xin Trả Nợ
Người, Ru Tình, Hai Mươi Mùa Nắng Lạ, Có Một Dòng Sông Đã Qua Đời...).
Ít "câu thơ" dẫn ra dưới đây gồm cả những câu rất TCS, và... không
TCS.
Có khi cả bài hát là một bài "thơ" mà những chữ cuối
trong câu toàn vần "bằng", nghe ra có một khí hậu rất mênh mang của
mùa thu:
Tình như lá bỗng vàng, bỗng xanh
em ra đi như thoáng gió thầm
qua con sông nhớ người đã xa...
Thành phố vẫn nắng vàng, vẫn mưa
cây sang thu lá úa rơi mù
chuyện ngày xưa heo hút trong mơ...
(Tạ Ơn)
Lại có trường hợp, có thể sắp xếp lại thứ tự những
câu hát rời rạc trong một bài hát khá đặc biệt để có được một bài
thơ... đặc biệt:
Im lặng của đêm tôi đã lắng nghe
Im lặng của ngày tôi đã lắng nghe
Im lặng của đời tôi đã lắng nghe
Im lặng thở dài tôi đã lắng nghe
Tôi đã lắng nghe im lặng thở dài
Tôi đã lắng nghe im lặng cuộc tình
Tôi đã lắng nghe im lặng đời mình
Tôi đã lắng nghe im lặng của tôi
(Tôi Đang Lắng Nghe)
Những câu dưới đây chắc phải là "thơ", vì đọc (hoặc
ngâm) nghe hay hơn là... hát :
Người phu quét lá bên đường
quét cả nắng vàng quét cả mùa thu
(Góp Lá Mùa Xuân)
...
Tôi nhặt gió trời mời em giữ lấy
để mắt em cười tựa lá bay
(Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui)
...
Ta về nơi đây phố xưa dấu đạn
Con đường bên sông cỏ lá buồn tênh
Ta về nơi đây tháng năm quá rộng
Đường xưa em lại thấp thoáng bàn chân
(Khói Trời Mênh Mông)
...
Còn đây những đêm này
còn em hãy yêu tôi
đời đốt nến chia phôi
dù nhớ thương cũng hoài
(Còn Có Bao Ngày)
Những câu trên là những câu có vẻ "thơ TCS" hơn cả.
Trong lúc tranh TCS chịu ảnh hưởng những người bạn họa sĩ của ông,
"thơ" của ông cũng đôi lúc chỗ này một chút Bùi Giáng, chỗ kia một
chút Phạm Thiên Thư... Thử đọc một đôi câu rất "Bùi Giáng" (một trong
những thi sĩ ông hằng ngưỡng mộ):
em đi bỏ lại con đường
bờ xa cỏ dại vô thường nhớ em...
em đi bỏ lại dặm trường
ngàn dâu cố quận muôn trùng nhớ thêm
(Em Đi Bỏ Lại Con Đường)
Cũng "cố quận", cũng "muôn trùng", cũng "dặm
trường", cũng "vô thường", cũng "em đi", "em về"..., chỉ cần thêm vào
những "chuồn chuồn", "châu chấu", hoặc "liên tồn", "lá cồn", "rớt
hột"... là có thể bỏ vào trong một tập thơ nào đó của "trung niên thy
sỹ" họ Bùi. Hoặc:
môi xinh ở đậu người xinh
đi đứng ở trọ đôi chân Thúy Kiều
(Ở Trọ)
Những "Thúy Kiều", "Kim Trọng", "Quỳnh Như" và...
"Kim Cương" nữa đều nằm cả trong thơ Bùi Giáng... Hoặc ít câu lục bát
TCS (phỏng dịch từ "Hán Tự Hài Cú" của Ngô Văn Tạo):
bên sông, dấu cũ nhà xưa
những ngày thơ ấu dạ thưa mộng gì
Những "dạ thưa, thưa rằng..."
rất quen thuộc kiểu Bùi Giáng (đại loại "ồ thưa em
ta thấy mộng không thường...", Ly Tao).
Một vài ca khúc TCS cũng mượn ý hoặc phát triển từ
câu thơ của thi sĩ nổi tiếng lập dị này. "Con Mắt Còn Lại" chẳng hạn,
lấy ý từ câu thơ:
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con
(Mắt Buồn, Bùi Giáng)
Hoặc, "Tôi Ơi, Đừng Tuyệt Vọng" cũng lấy ý từ
một câu thơ khác:
Em bảo rằng, "đừng tuyệt vọng nghe không"...
(Phụng Hiến, Bùi Giáng)
Những "câu thơ" rải rác trong các bài về đạo, về
thiền, như Nguyệt Ca, Giọt Lệ Thiên Thu, Đóa Hoa Vô Thường... chẳng
hạn, "rằng hay" thì có hay, nhưng "nghe ra" vẫn cứ phảng phất cái hơi
hướm Phạm Thiên Thư thế nào.
Khác với nhạc TCS, nếu ông không ký tên vào dưới mỗi
bài thơ, mỗi bức tranh thì người ta khó mà biết được rằng đấy là thơ,
là tranh TCS. Theo tôi, ngoài âm nhạc, những bài viết ngăn ngắn mà ông
gọi là "tạp bút ngẫu hứng" của ông có vẻ mang nhiều dấu ấn TCS hơn là
những bức tranh, những bài thơ...
Cái đam mê thứ hai của TCS, sau âm nhạc, là hội họa,
chứ không phải thi ca, và nếu bắt ông phải chọn lựa giữa thi và họa,
tôi chắc ông chọn làm họa sĩ hơn là thi sĩ, vì hai lẽ: thứ nhất, ông
có vẻ gắn bó với thế giới của màu sắc hơn; thứ hai, với cây cọ và trên
khung vải, ông được tự do hơn để vẽ ra những giấc mơ mà ông đã không
thể hiện được trong âm nhạc. Hơn thế nữa, ông từng có lần nói về những
thú tiêu khiển: "Tôi dự định sẽ chia tay với âm nhạc để viết những
bài tạp bút ngẫu hứng và vẽ." (3) Tại sao lại vẽ (chứ không phải
làm thơ)? Ông cho biết: "Tôi yêu hội họa cũng như âm nhạc. Có lúc
lòng say mê hội họa trong tôi còn vượt hơn cả âm nhạc. Vẽ đối với tôi
là một niềm say mê đặc biệt. Đã đụng màu vào toile là không dứt
ra được, mầu này kêu gọi mầu khác." (3) Ông còn giải thích thêm:
"Hội họa là cõi trú thứ hai của tôi bên cạnh cõi trú âm nhạc. Khi
ngôn ngữ và âm nhạc bất lực thì màu sắc lên tiếng để an ủi và ru dỗ
tôi..." (3)
Sau cùng tôi vẫn nghĩ rằng, cho dù có là thơ, văn,
nhạc, họa hay gì gì đi nữa, cho dù người đời có muốn tặng cho ông hay
lấy đi của ông những tên tuổi, những danh xưng danh hiệu nào, có muốn
gọi ông bằng bất cứ tên gọi nào, trước sau ông vẫn cứ là... TCS, không
hơn không kém. Thế thôi.
Triết lý hay không triết lý
"Tôi vốn ưa thích triết học và vì thế tôi muốn đưa
triết học vào những ca khúc của mình,"(3) TCS giải thích về việc người
ta tìm thấy những triết lý ẩn chứa trong ca từ của ông.
Những triết lý tản mạn được ông "đưa vào những ca
khúc của mình" có thể dễ dàng tìm thấy trong một số bài hát, một
số câu hát. Những triết lý ấy không mới (nếu không phải cũ kỹ), hoặc
nếu có mới chỉ là mới ở cách thể hiện bằng "ngôn ngữ TCS". Hơn thế
nữa, những triết lý ấy hầu hết đều nằm trong những pho sách ở "tàng
kinh các" của nhà Phật. Đó là những "triết lý" về số kiếp, về định
mệnh, về "sắc sắc không không", về "lẽ vô thường của đất trời", hoặc
những giáo điều khá phổ biến mà không ai không biết, như "đời là bể
khổ trầm luân", "oán thù nên giải không nên kết"... vân vân. Chính
ông cũng thừa nhận: "Phật giáo tác động rất sâu xa trong đời sống
tâm linh của tôi. Cái phần siêu hình trong ngôn ngữ của tôi là do ảnh
hưởng của Phật giáo... Không hiểu sao, những năm gần đây, tôi thường
nghĩ về Phật giáo như là một tôn giáo mang nhiều tính hiện sinh nhất.
Bắt đầu bằng chữ sát na, một đơn vị thời gian siêu nhỏ. Phải biết sống
hết mình trong mỗi sát na của thực tại..." (4) Ông phấn khởi, hồ
hởi tìm thấy nơi triết lý nhà Phật con đường giải thoát, và còn hăng
hái rủ rê mọi người cùng theo ông đến gõ cửa thiền: "Với tôi, Phật
giáo là một triết học làm cho ta yêu đời hơn, chứ không phải
làm cho ta lãng quên cuộc sống. (4) Đó là một thứ triết học
siêu thoát mà ai cũng cần phải học, ngay cả những người thuộc tôn giáo
khác. Mỗi người cần phải nỗ lực để xây dựng cho bằng được một ngôi
chùa tĩnh lặng trong lòng mình. Nó sẽ giúp ta nhìn thế giới khác đi,
nhìn cuộc sống khác đi. Với tôi, đó cũng là thiền, là một cách sống
đích thực..." (4)
Thiền, liệu đấy có phải là "một cách sống đích
thực"? Ai sẽ trả lời câu hỏi này? Chỉ biết rằng "Hãy Cứ Vui Như Mọi
Ngày", "Để Gió Cuốn Đi", "Nguyệt Ca", "Đóa Hoa Vô Thường", "Giọt Lệ
Thiên Thu"... và những bài về sau nữa nghe đẫm hương thiền, trong lúc
người viết những ca khúc ấy vẫn còn đang dọ dẫm những bước đầu "khái
niệm nhập môn" để phấn đấu trở thành một môn sinh của Thiền. "Tôi
đang tập hành Thiền về sự lãng quên," ông cho biết thêm. "Lãng
quên những gì không cần thiết cho đời và cho chính bản thân mình"
(4)
Liệu ông còn phải tập tành đến bao lâu, đến mức nào
mới gọi là đủ công phu, nội lực để lọt hẳn được vào cánh cửa thiền
(không phải chân trong chân ngoài)? Liệu ông có "thiền" nổi, có "lãng
quên" nổi, hay rồi cũng chỉ là "quên trong nỗi nhớ" (Nguyệt Ca) hoặc
"tưởng rằng đã quên, nhưng tim yếu mềm..." (Tưởng Rằng Đã Quên).
Ông thích "triết lý" về sự sống, về cái chết, về
tình yêu, về thân phận con người..., bằng những góp nhặt và vay mượn
từ những mảng triết học từ đông sang tây, chỗ này
một ít, chỗ kia một ít.
"Đời cho ta thế, những sớm tối không đổi thay..."
(Đời Cho Ta Thế), định mệnh chỉ cho ta một quả chanh, hãy vui vẻ đón
nhận, hãy vắt lấy nước mà uống. Triết lý "thỏa hiệp với nghịch cảnh"
ấy ta nghe đã từ lâu lắm.
"Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, chọn những bông
hoa và những nụ cười" (Mỗi Ngày Tôi Chọn Một
Niềm Vui), không phải đợi cho tới lúc những câu hát ấy được ông viết
ra, người ta mới thấu hiểu được ý nghĩa của triết lý sống đơn giản ấy.
Hạnh phúc ở quanh đây, hạnh phúc thật bình thường, cái "nghệ thuật
sống" ấy từng được nhiều người biết đến, có khi còn trước cả ông Lâm
Ngữ Đường nữa.
Triết lý về nhân sinh ấy được đẩy xa thêm chút nữa
thành ra những "hãy cứ vui chơi cuộc đời" (Hãy Cứ Vui Như Mọi
Ngày), "còn cuộc đời ta cứ vui" (Để Gió Cuốn Đi), "cuộc đời
đó có bao lâu mà hững hờ" (Mưa Hồng). Đến đây thì những câu hỏi
"tôi là ai mà yêu quá đời này? Tôi là ai mà còn trần gian thế?..."
(Tôi Ơi, Đừng Tuyệt Vọng) bắt đầu được đặt ra... "Tôi là ai?"
hoặc "tôi hiện hữu hay không hiện hữu?", những vấn nạn đại loại
như thế đã có từ nhiều năm trước, khi mà tuổi trẻ ngày ấy mới bước đầu
làm quen với những tên tuổi A. Camus, J.P. Sartre. Thế nhưng, đây lại
là một kiểu hiện sinh khác, theo như TCS giải thích: "... không
phải hiện sinh theo kiểu sống vội sống vàng, mà ở đây, con người sống
bình thản trong từng sát na" (3). Một trong những lập luận vẫn
thường được TCS nhắc đi nhắc lại, như một phát kiến của nhà tư tưởng:
"Tôi hát là tôi hiện hữu. Tôi tồn tại cũng có nghĩa là tôi sẽ mất
đi. Tôi mất đi nhưng tiếng hát còn ở lại. Tiếng hát còn ở lại cũng có
nghĩa là tôi hiện hữu." (4). Cứ theo lối lập luận ấy, ông đã không
thừa nhận là ông "mất đi" sau khi ông... mất. Trước đây, ông vẫn phủ
nhận những quy luật về tuổi tác và nhất định "không chịu già". Nay,
ông đứng vào hàng ngũ những người "không chịu chết", mặc dù chính ông
cũng là người viết "Cát Bụi".
Thử nghe lại "Cát Bụi", một trong những ca khúc khá
phổ biến của TCS, mang tính triết lý về thân phận con người (trở thành
bài hát chính tiễn đưa ông trong ngày ông "về làm cát bụi"). "Để
một mai tôi về làm cát bụi" thì không có gì mới (cát bụi trở về
cát bụi, ai cũng biết). "Ôi, cát bụi mệt nhoài" thì có mới hơn
(mặc dầu từ nhiều năm trước đó, nhà thơ cũng tên với ông, Nguyễn Đức
Sơn, cũng từng nói đến "cát bụi mệt mỏi"). "Mệt nhoài" vì những nỗi
gian truân, những lao đao giữa cuộc sống, những lận đận của kiếp
người... "Ôi, cát bụi tuyệt vời" cũng mới hơn. Thật là tuyệt
vời khi rũ sạch nợ trần (hay phủi sạch bụi trần) để lại được hóa thân
về làm... cát bụi!
"Tiếng động nào gõ nhịp khôn nguôi..."
là "tiếng động"gì vậy? Giữa đời sống cơ hồ bị bủa vây bởi trùng trùng
thanh âm, bởi trăm nghìn tiếng động, làm sao biết được tiếng động nào
là tiếng động nào? Bao nhiêu người hát, bao nhiêu người nghe, ít có ai
đặt câu hỏi. Tiếng động nghe được và không nghe được. Tiếng động có
tên và không tên. Có thể là tiếng búa nện đinh trên nắp quan tài.
Hoặc, có thể là tiếng động "tích tắc" gõ nhịp đều đặn của chiếc kim
đồng hồ, từng ngày từng giờ vận chuyển những vòng lăn của chiếc bánh
xe thời gian. Hoặc, có thể là tiếng mưa nhỏ giọt, từng giọt từng giọt
trong đầu ("có mưa quanh chỗ nằm..."). Hoặc, có thể, có thể...,
và còn biết bao nhiêu loại tiếng động khác nữa giữa cuộc sống bộn bề.
Thử nghĩ xem, ông nhạc sĩ muốn nói điều gì? Thử nghe qua vài loại
tiếng động lạ thường trong những lời nhạc của ông:
đêm ta nằm nghe tiếng trăm năm...
(Còn Có Bao Ngày)
có tiếng tù và hối thúc trong tim... (Bay Đi Thầm Lặng)
một chiều đầu thu nghe chân ngựa về chốn xa... (Một Cõi Đi Về)
Lại còn có cả một bài nhạc (Nghe Tiếng Muôn Trùng)
nói về đủ thứ đủ loại tiếng động mà chỉ có mỗi mình ông nghe được.
Tiếng động, nỗi ám ảnh thường trực, không nguôi,
không dứt, không rời, chính là nỗi ám ảnh về cái chết, về cát bụi, đeo
đẳng theo ông mãi một đời.
Tiếng động là ảo giác.
Làm gì có tiếng động nào. Làm gì có triết lý nào.
TCS, đôi lúc ta thấy ông như đang loay hoay cố tìm kiếm điều gì đó mới
mẻ, nhưng tìm chưa thấy, kiếm chưa gặp, nên vẫn cứ loanh quanh luẩn
quẩn, vẫn còn chạy lòng vòng. Trước sau ông vẫn chỉ như một con người
suy tưởng, một nhà tư tưởng (thinker) hơn là một triết gia, dù đôi lúc
ông có điệu bộ lừng khừng hoặc trầm tư của một triết nhân.
Khi nghe nhạc TCS là khi ta lên đường cùng với ông,
đi tìm kiếm những lời giải đáp, những câu trả lời về thân phận, về
tình yêu, về cuộc sống, về cái chết, về đủ mọi vấn nạn trong cõi nhân
sinh này. Những câu hỏi đại loại: "tôi là ai, là ai, là ai...?",
hoặc lắm lúc chỉ là những câu hỏi bâng quơ "làm sao, thế
nào...?" tưởng như vớ vẩn, lẩm cẩm: "làm sao em biết bia đá
không đau?", "làm sao em biết đời sống buồn tênh?" "Làm sao, làm
sao...?" Những câu hỏi cứ dấy lên mà không bao giờ có được lời
giải đáp. Những câu hỏi "như từng viên đá cuội rót vào lòng biển
khơi" (Tình Nhớ), hoặc theo cách nói của ông, những câu hỏi ném
vào hư vô, hư không, hay hư... gì gì đó!
TCS không phải là người đầu tiên "muốn đưa triết học
vào những ca khúc". Trước ông khá lâu, Phạm Duy chẳng hạn, đã có những
tâm ca, rồi đạo ca, thiền ca... Về giá trị nghệ thuật, từ "Đóa Hoa Vô
Thường" đến những bài phổ thơ Phạm Thiên Thư của Phạm Duy như "Đưa Em
Tìm Động Hoa Vàng", "Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu" vẫn còn là những khoảng
cách. (Tương tự, "Còn Mãi Tìm Nhau" là một cố gắng khác để viết lại
"Tìm Nhau", một sáng tác của Phạm Duy, năm 1956. Ở Phạm Duy: "tìm
nhau trong cơn gió", ở TCS là "tìm trong gió vô tình..., tìm
trong ngọn gió hư vô". Ở Phạm Duy: " tìm nhau khi nắng đổ",
ở TCS là "tìm trong nắng hững hờ". Ở Phạm Duy: "tìm nhau
trong mưa bão", ở TCS là "tìm khi gió mưa về" . Ở Phạm Duy:
"tìm nhau trong muôn thuở", ở TCS là "tìm nhau giữa vô
cùng". Ở Phạm Duy: "tìm nhau như thiên cổ tìm ngàn thu",
ở TCS là "tìm xa vắng muôn trùng…, tìm nhau ta hẹn với đời nhau".
Sau hết, ở Phạm Duy: "gặp nhau, đôi tâm hồn được nghỉ ngơi", ở
TCS là "tìm nhau trong hạnh phúc vô thường". Trong lúc Phạm Duy
vẫn còn miệt mài "tìm trong câu thơ cổ, tìm qua tranh tố nữ,
tìm..." thì TCS có lẽ đã... thấm mệt nên tạm thời từ bỏ ý định
"còn mãi tìm nhau" !...).
Trở lại chuyện triết lý hay không triết lý? Kỳ thực,
chẳng có triết lý nào cả, chẳng có triết học nào "đưa vào những ca
khúc" như TCS nói. Những triết lý ấy (nói cho có vẻ "triết lý"),
thực chất là giáo lý, tiềm ẩn trong tôn giáo, hay nói đúng hơn, là
những mảnh vụn triết lý vay mượn, sao chép trong kinh Phật. Những
"triết lý" ấy thực sự không xa lạ gì đối với tín đồ Phật giáo, đối với
một phật tử thuần thành như TCS. Phật giáo, nói như TCS, đấy là một
thứ "triết học siêu thoát", chứ không hẳn chỉ là một tôn giáo. "Tôi
đang cố gắng quên Phật giáo như một tôn giáo," ông nói, và còn thêm
rằng ông không "tìm đến với Phật, mà là trở về với Phật tính trong
cõi riêng mình" (4). Ông gọi đó là "chiếc ngai Phật". "Tôi
ngồi, Phật sẽ tràn ngập tôi và tôi sẽ tràn ngập Phật" (4). Càng về
cuối đời, hay càng cận kề nỗi tuyệt vọng, người ta càng có khuynh
hướng đến gần với tôn giáo, điều này cũng dễ hiểu và cũng giải thích
trường hợp TCS. Dù là "tìm đến với Phật" hay "trở về với Phật tính",
dù có muốn "quên Phật giáo như một tôn giáo" thì tôn giáo ấy cũng đã
là chỗ dựa, là đôi nạng nhiệm mầu cho ông tựa vào để gắng gượng sống,
để có đủ sức chống trả và hóa giải mọi bủa vây nghiệt ngã, hay ít nhất
cũng đã vỗ về, trấn an ông, cũng đã ít nhiều tạo cho ông cái ảo giác
là ông có thể an nhiên tự tại trong cõi sống đầy hệ lụy này. Tôn giáo
là con đường cứu rỗi, là chiếc phao cho kẻ sắp chết đuối là ông bám
vào, khi mà sự tuyệt vọng và cái chết là hai nỗi ám ảnh không rời
trong những năm tháng cuối đời.
Ông đã nói về tôn giáo của ông như những lời rao
giảng về đức tin, về chân lý trong một bài thuyết pháp. Ông đã tin vào
tôn giáo như tin vào một thứ triết học siêu thoát. Ông đã tập hành
thiền để mong "siêu thoát", để tìm sự lãng quên, thế nhưng mục đích
của hành thiền đâu có phải là để lãng quên. Chẳng ai tập lãng quên
được cả. Ai cũng biết khi muốn quên là khi lòng còn nhớ; khi muốn
"thoát" là chưa dứt nợ trần. Ông không quên, ông chỉ muốn tìm quên;
ông chưa thoát, ông chỉ muốn được thoát,và đấy là những điều ông
"muốn", chứ không phải là ông đã đạt được.
Tôn giáo, sau cùng đã cho ông được những gì? Liệu
ông có đủ vật liệu (đức tin, sự bền bỉ, lòng quyết tâm...) để xây được
"ngôi chùa tĩnh lặng trong lòng mình". Đâu cần phải xây dựng những
ngôi chùa nguy nga, những đền đài tráng lệ, chỉ cần một cái am nhỏ
thôi, tôi nghĩ, với một chút lòng thành, cũng đủ cho ông tìm gặp được
chính mình.
Liệu ông có thực sự tin vào những lời rao giảng của
chính mình hay chỉ... nửa tin nửa ngờ? Liệu "đức tin" ấy có "cứu" được
ông? Chắc không ai có được câu trả lời rõ ràng hơn chính ông:
"Những đấng tối cao, có lẽ đã ngủ quên cùng với chân lý...," (3)
sau cùng ông đã phải thốt lên như vậy. Trong nỗi tuyệt vọng, ông phải
lần dò đi gõ từng cánh cửa, kể cả cánh cửa tình yêu để khẩn cầu
"Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người, này em, xin cứu một
người..." (Này Em Có Nhớ).
Triết học, sau cùng đã cho ông được những gì? Chắc
cũng không ai có được câu trả lời rõ ràng hơn chính ông: "Tôi đang
muốn quên đi những trang triết lý, những luận điệu phỉnh phờ...,"
(3) ông nói thẳng thừng. Tất cả, những gì ông đã dày công nghiền ngẫm,
sục sạo..., rốt cuộc đều là giả trá, bịp bợm cả hay sao? "Những luận
điệu phỉnh phờ", khi nói thế, ông cũng đã "triết lý" vậy. Chỉ có điều,
triết lý ấy đã ứng dụng cho cả chính ông, đã quay ra phỉnh phờ cả
chính ông.
Tôn giáo là triết học hay triết học là tôn giáo?
TCS, ông đã đồng hóa hai thứ ấy. Triết học và tôn giáo chỉ là một. Ông
đã tìm thấy trong tôn giáo của ông những triết lý đời thường mà ông
tin rằng có thể ứng dụng được để cứu rỗi ông, để giúp ông tìm được sự
bình ổn trong tâm hồn. Điều đó cũng giải thích tại sao ông đã "muốn
đưa triết học vào những ca khúc của mình".
Nhạc và lời :
Trong một thời gian rất dài, trên bìa của các nhạc
phẩm ấn hành ở hai miền Nam Bắc, bên dưới cái tựa của bài nhạc luôn
luôn là hàng chữ "Nhạc và Lời", ghi tên tuổi của tác giả. Trừ một ít
trường hợp phổ thơ và phổ lời của người khác, hầu hết nhạc và lời đều
cùng một tác giả. Vì là nhạc phẩm (không phải là thi phẩm, họa
phẩm...), mọi người đều ngầm hiểu rằng phần nhạc là chính, lời là phụ.
(Tất nhiên, nhạc hay và lời cũng hay thì bài nhạc càng thêm phần giá
trị). Trường hợp TCS lại không phải như vậy. Dù là thưởng thức hay
bình phẩm về âm nhạc của ông nhạc sĩ này, mọi người có lúc gần như đã
quên đi phần "nhạc" để chỉ nói đến "lời". Tại sao lại như vậy, có điều
gì nghịch lý chăng?
Giá trị nghệ thuật của âm nhạc TCS là ở lời hơn là ở
nhạc. Nếu tước bỏ phần lời, e chẳng còn gì. Các dĩa nhạc độc tấu, hòa
tấu TCS bán lền khên ngoài cửa tiệm, dẫu phần kỹ thuật, nghệ thuật có
được chăm chút tới đâu cũng ít được giới yêu nhạc chiếu cố. Người ta
"nghe" nhạc TCS là nghe những lời ông nói trong bài nhạc ấy chứ không
nghe dạo nhạc, chơi nhạc (trừ một ít bài). Các nhạc sĩ đàn anh của TCS
như Phạm Duy, Văn Cao không "chê" nhạc của ông, nhưng không tìm ra chỗ
nào để khen. Ông Văn Cao chỉ nói: "Trong âm nhạc của Sơn, ta không
thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc bác học tây phương...
Những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc
biệt như một hình thức của dân ca, hầu như không thay đổi..." (5).
Ông Phạm Duy thì nói: "Về phần nhạc, toàn thể ca khúc TCS không cầu
kỳ, rắc rối, vì nằm trong một số nhạc điệu đơn giản... Bài hát chỉ cần
một chiếc đàn guitare đệm theo, nếu hòa âm phối khí rườm rà thì không
hợp với những bài hát soạn theo thể ballade này" (1). Hai bậc đàn
anh này đều tỏ ra "đàn anh" và tử tế: khen chỗ nào đáng khen, chỗ nào
không khen được thì cũng không chê! Cả hai ông đều chỉ nói lướt qua
phần "nhạc", trong lúc đưa ra những lời ngợi khen về phần "lời" (ta
hiểu rằng phần nhạc... không có gì để nói nhiều).
"Nhạc điệu đơn giản" và
"hầu như không thay đổi" theo lối nhận định trên còn được hiểu
là đơn điệu, trùng lặp. Những trùng lặp này dễ dàng tìm thấy ở những
câu nhạc trong những bài nhạc khác nhau. Tiếng đàn đệm guitare "phừng
phừng" trong những băng nhạc mà ta nghe được (thường là "Ca Khúc Da
Vàng") trong những quán café một thời nào, thường chỉ một điệu duy
nhất, rõ ràng là không lấy gì làm hấp dẫn, vậy mà tuổi trẻ ngày ấy vẫn
chịu khó ngồi quán hàng giờ để thưởng thức, đủ để thấy cái sức thu hút
nằm ở lời ca chứ đâu phải tiếng nhạc.
Những trùng lặp cũng không phải chỉ ở phần nhạc mà
còn ở phần lời nữa. Những ý tưởng trong "Một Cõi Đi Về" chẳng hạn, có
thể tìm thấy rải rác trong "Một Ngày Như Mọi Ngày", "Lặng Lẽ Nơi Này",
"Giọt Lệ Thiên Thu"...
Trong một số bài TCS, ca từ lấn lướt hẳn giai điệu.
Có nhiều bài, đọc lời ca thấy hay nhưng khi hát hoặc nghe hát thì lại
không nghe ra được cái hay ấy, hoặc cái hay... giảm đi. Trong một bài
nhận định trước, tôi có nêu nhận xét "lời TCS hay đến mức, ở một đôi
bài, nhạc không bắt kịp lời" (nhận xét này cũng được nhiều người tán
đồng) cũng là nằm trong ý này. Đó là những bài mà lời ca "đọc" nghe
hay hơn là "hát", chỉ vì giai điệu tầm thường hoặc lời một đằng nhạc
một nẻo, thiếu cân xứng, tự nhiên. Lời có đẹp nhưng nhạc lại không đủ
sức nâng, thành thử "nhạc và lời" đều không bay lên được. Kết quả, một
số bài hát tuy có hay ở phần lời nhưng lại ít được phổ biến, không đến
được với người yêu nhạc.
Lâu nay tôi vẫn không trả lời được rõ ràng mỗi khi
có người hỏi "thích bài nào của TCS?". Thường thì tôi khá lúng túng để
tìm tên một bài hát nào đó. Bây giờ thì tôi hiểu tại sao. Tôi không
thích hẳn, thích trọn một bài nào mà chỉ thích đôi ba câu trong những
bài hát ấy. Tôi cũng nhận ra cái lối thưởng thức nhạc TCS tương tự ở
nhiều người khác chứ chẳng phải riêng tôi. Có vẻ những người yêu nhạc
TCS cũng chỉ giữ riêng cho mình một đôi câu trong bài nhạc nào đó của
ông, đôi lúc không nhớ nổi cái tên. Thành thử, có khi người ta yêu một
bài hát chỉ vì yêu một câu hát, cũng tựa như yêu một cô gái chỉ vì cái
má lúm đồng tiền vậy.
Một cô bạn tôi ngày trước nói rằng cô thích câu "có
tôi trong dáng em ngồi trước sân" trong một bài hát nào đấy của TCS mà
cô không biết hay không nhớ tên. Mãi sau này tôi mới gặp "Đóa Hoa Vô
Thường", tên bài ấy, và có nghe đâu một vài lần. Mặc dù bài hát có
được một vài nhà nghiên cứu âm nhạc ca ngợi về giá trị nghệ thuật,
trước sau tôi vẫn không mấy thích, và bài này cũng có vẻ ít được phổ
biến, hiểu theo nghĩa ít người chịu hát, chịu nghe, chịu thưởng thức.
Tôi chịu "Nguyệt Ca" hơn, chịu "từ khi trăng là nguyệt, đèn thắp
sáng trong tôi" hơn là "từ đó ta là đêm, nở đóa hoa vô thường".
Cô bạn tôi thì chỉ chọn ra được mỗi một câu trong bài (tôi không
chắc là cô thích bài hát hay chỉ thích câu hát ấy, và cô cũng chẳng
biết câu ấy hát như thế nào nữa). Vậy là sao? Có thực đấy là bài nhạc
hay và giá trị đúng nghĩa? Những bài giới thiệu, ngợi khen về giá trị
và công trình biên soạn một tác phẩm không làm tác phẩm ấy trở
thành... tác phẩm hay. Việc thẩm định bao giờ cũng thuộc về phía những
người thưởng ngoạn. "Đóa Hoa Vô Thường" khó được đón nhận, tán thưởng
vì những cái khó: khó hát, khó diễn tả, khó hiểu, và vì... vô thường
quá!
Dường như sở trường của TCS là những ca khúc ngắn,
bố cục gọn. Dòng nhạc của ông chỉ quanh quẩn nơi những khúc sông, chưa
một lần nào đổ ra biển. "Đóa Hoa Vô Thường" chỉ là một thử nghiệm.
(Thực ra ông cũng đã từng "thử nghiệm" một lần với "Dã Tràng Ca",
trong thời kỳ đầu sáng tác, nhưng cũng không thành công. Bài hát không
phổ biến, ít người biết). Dù đã từng là vận động viên chạy bộ, TCS chỉ
quen chạy những quãng ngắn, nay đổi sang chạy đường dài ông dễ bị hụt
hơi.
Tôi cũng nhận ra thêm một điều, dường như ít có được
bài nhạc nào của TCS gọi là hoàn hảo, hầu như bài nào cũng có một, hai
chỗ hỏng, chỗ vụng, khi thì ở lời, khi thì ở nhạc. Những bài nhạc vẫn
như một phác thảo, một tác phẩm không toàn bích, một nhan sắc không
toàn vẹn, vẫn như thiêu thiếu một cái gì. Được đoạn đầu thì không được
đoạn cuối hay đoạn giữa. Được một, hai câu hay thì lại vấp phải một
hai câu vụng... Đôi khi, tôi nghĩ, cũng chính vì cái thiêu thiếu ấy mà
người nghe vẫn muốn nghe thêm, vẫn muốn đi tìm, để mong một lúc nào đó
sẽ tìm gặp.
Không phải là tác giả TCS không thấy được những
khiếm khuyết ấy. Ông cũng thừa nhận: "Bố cục trong âm nhạc tuy chặt
chẽ nhưng cũng có những khoảng tưởng như vụng về. Cái vụng về ấy là cố
ý như chiếc răng khểnh hoặc nốt ruồi trên khuôn mặt đẹp" (3).
Những vụng về cố ý, đấy chỉ là cách nói để người ta dễ bỏ qua những
khiếm khuyết. Ta có thể nhìn thấy những "chiếc răng khểnh hoặc nốt
ruồi" ấy nằm đâu đó trong số những bài nhạc của ông, có khi ở câu
hát, có khi ở giai điệu. "Nhớ Mùa Thu Hà Nội" chẳng hạn, ca khúc sáng
tác sau năm bảy mươi lăm, đẹp cả nhạc lẫn lời, và còn là bức họa sinh
động có một khí hậu rất Hà nội. "Hà nội mùa thu, đi giữa mọi người,
lòng như thầm hỏi tôi đang nhớ ai (?). Sẽ có một ngày trời thu Hà nội
trả lời cho tôi, sẽ có một ngày từng con đường nhỏ trả lời cho tôi..."
Bài hát sẽ là những lời tả tình tả cảnh về một nơi chốn quê hương thật
là đẹp, nếu không lọt ở đâu vào câu kết ở phần coda nghe khá...
vô duyên và lạc điệu "... mùa thu Hà nội, nhớ đến một người, để
nhớ... mọi người" (như một cố gắng thêm vào để đi đúng bài bản
chính sách "mình vì mọi người, mọi người vì mình"). Chữ "mọi
người" lặp lại hai lần một cách cố ý, vừa nói đến cái riêng là phải
quay về cái chung ngay để tránh bị quy chụp là... lãng mạn tiểu tư
sản.
Ví dụ kể trên, là một trong nhiều ví dụ, dẫu có là
"nốt ruồi trên khuôn mặt đẹp", nói như TCS, chắc không phải là nốt
ruồi duyên.
Đặc điểm ở kết cấu, bố cục trong những bài nhạc TCS
là tính chắp vá, tản mạn. Câu trước và câu sau lắm khi chẳng có một
mắt xích liền lạc nào. Những ý tưởng rời rạc gom góp lại thành bài
hát. Thậm chí có thêm hay bớt một vài câu cũng không làm thay đổi hay
thiệt hại gì đến bài hát, hoặc cho đoạn cuối, đoạn giữa lên trên, đoạn
đầu xuống dưới như ca sĩ TN hát "Một Cõi Đi Về" cũng được như thường.
(Có ca sĩ lại còn "chế" thêm hai câu cuối cho bài hát này, đại khái
"say sưa", "ngủ nghê" hay "tiếc một thời xuân" gì gì đó..., chẳng có
dính dấp gì đến nội dung bài hát).
Những ý tưởng không liền lạc như thế cũng khiến phát
sinh những kiểu chế biến trong lối trình diễn nhạc TCS như là "liên
khúc TCS", hoặc ghép chung hai bài nhạc (nội dung chẳng có chút gì
liên hệ với nhau) thành một bài, như "Cát Bụi-Tình Xa" chẳng hạn, và
người nghe vẫn cứ dễ dàng chấp nhận.
Một số bài nhạc TCS có thể ví như những bài thơ có
hay nhưng không hoàn hảo, người đọc tuy có thích, nhưng chỉ nhặt ra
một vài câu để ngâm nga mà không thích trọn bài. Nghe nhạc TCS, trước
sau vẫn chỉ là đón bắt những ý tưởng tản mạn như những bông hoa lạ và
đẹp, để nhìn ngắm, thưởng thức, và đôi lúc tự tạo cho mình chút ảo
giác dễ chịu trong cuộc sống tẻ nhạt thường ngày.
Tôi không định nhắc đến tên một vài ca sĩ, một vài
giọng hát đã mang đến cho người nghe chút ảo giác "hạnh phúc là một
tách café và nhạc TCS", nhưng vì tác giả TCS cũng đã kể ra những tên
tuổi này, trong số có Bạch Yến, người nữ ca sĩ mà ông cho rằng "hát
hay nhất Lời Buồn Thánh” (6). Tôi chưa được nghe "chiều Chủ Nhật
buồn, lặng nghe gió đi về..."qua tiếng hát của "người hát hay nhất
“Đêm Đông” này, tuy nhiên tác giả bài hát đã có lời nhận xét như vậy
thì chắc là phải đúng thôi. Nhưng tại sao chỉ có "Lời Buồn Thánh",
những bài khác thì sao? Hay là chị chỉ hát có mỗi bài ấy? Tôi không
được rõ, thế nhưng tôi biết có những ca sĩ đúng là chỉ hát hay có một
bài nào đó của TCS, như Carol Kim, "Hãy Khóc Đi Em"; như Elvis Phương,
"Này Em Có Nhớ". Có thể kể thêm nữa Sĩ Phú, "Nghe Những Tàn Phai"; Vũ
Khanh, "Hai Mươi Mùa Nắng Lạ"; Ngọc Lan, "Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ";
Tuấn Ngọc, "Tôi Ru Em Ngủ"; Duy Trác, "Một Cõi Đi Về"; Thái Hiền,
"Phôi Pha"; Trịnh Vĩnh Trinh, "Tôi Ơi, Đừng Tuyệt Vọng"... (và còn
những bài hát, những giọng hát nào nữa tôi chưa được biết đến, chưa
được nghe qua).
Riêng Khánh Ly, ca sĩ vẫn được nhiều người và chính
tác giả TCS nêu nhận xét là có "giọng hát phù hợp nhất, thể hiện
đúng tâm trạng bài hát của tôi nhất" (6), tôi vẫn cho là chị hát
"Ca Khúc Da Vàng" hay hơn là những tình khúc và những ca khúc mang chủ
đề khác của TCS (và chính chị cũng từng nói là chị "yêu những Ca
Khúc Da Vàng hơn bởi vì nó lớn hơn tình ca"). Những lời hát ấy
phải sánh đôi với giọng hát ấy, phải là giọng khắc khoải, trăn trở, rã
rượi, phải là cái giọng khao khao của con chim đau khản tiếng, phải là
giọng hát mang thương tích, là tiếng kêu bi thương, thảm thiết, có lúc
đứt đoạn, có khi lạc cả giọng, phải là giọng hát chở theo những định
mệnh bất toàn, những nghiệt ngã của thân phận đất nước, những bất hạnh
của cả một dân tộc. Đâu có dễ tìm một giọng hát như thế... Cũng phải
kể thêm một ít bài TCS khó tìm được ai hát hay hơn chị, như những "Lời
Mẹ Ru", "Xin Cho Tôi", "Tình Nhớ", "Mưa Hồng", "Để Gió Cuốn Đi",
"Những Con Mắt Trần Gian"... Và Lệ Thu nữa, đâu có phải chỉ "hát hay
nhất 'Hạ Trắng' và 'Xin Mặt Trời Ngủ Yên'"(6) như TCS nói, tôi cho
rằng cần phải kể thêm nữa những "Cát Bụi, "Tình Xa", "Ru Ta Ngậm
Ngùi", "Nắng Thủy Tinh", "Như Cánh Vạc Bay" (hát chung với Khánh
Ly)... và một ít bài trong số những tình khúc TCS. (Những nhận xét nêu
trên là hoàn toàn chủ quan, không hẳn đã phù hợp đối với nhiều người).
Lê Hữu
(còn tiếp)
Báo VĂN HỌC
số Tân Niên tháng 02-03/2004
(1) Phạm Duy, Hồi Ký: Thời Phân Chia Quốc Cộng, nxb
Phạm Duy Cường, California, 1991
(2) TCS, Trịnh Công Sơn, Rơi Lệ Ru Người, nxb Phụ Nữ, Hà Nội, 2001
(3) TCS, trả lời phỏng vấn, Trịnh Công Sơn, Một Người Thơ Ca, Môt Cõi
Đi Về, nxb Âm Nhạc & TTVH Ngôn Ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2001
(4) TCS, tạp bút, Một Cõi Trịnh Công Sơn, nxb Thuận Hóa & TTVH Ngôn
Ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2002
(5) Văn Cao, lời bạt, Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên, nxb Trẻ, TP.HCM, 1991
(6) TCS, trả lời phỏng vấn, Tạp chí Thế Giới Mới, TP.HCM, 2/1999
(7) Quỳnh Giao, Trịnh Công Sơn, Như Cánh Vạc Bay, Tạp chí Văn Học,
California, 10&11/2001
TCS, tạp bút, Trịnh Công Sơn, Người Hát Rong Qua Nhiều Thế Hệ, nxb
Trẻ, TP.HCM, 2001
Những chữ in nghiêng trong bài là trích ca từ TCS.