4. Ảo giác con người TCS
"Làm sao thấu từng nỗi đời riêng..."
(Như Một Lời Chia Tay), liệu câu hát ấy có thể hiểu như lời phân
giải của một người trước lúc chia tay với mọi người, với cuộc đời mà
ông đã từng sống, từng yêu thiết tha.
Thực tế, không dễ gì có thể hiểu hết, hiểu hoàn
toàn được một con người. Ngay đến những người thân, những người có
dịp gần gũi với TCS, khi nói hay viết về ông, cũng ít nêu được những
điểm khả dĩ nói lên tính cách cá biệt rõ nét nơi con người ông (điều
mọi người muốn biết hơn là những câu chuyện phất phơ, đôi lúc thêm
thắt, chỉ để tỏ ra từng quen biết, từng là bạn là bè của ông).
Lý do những người thân, những bè bạn của ông ít có
người "hiểu" ông là vì ông không có thói quen bộc lộ hay chia sẻ.
Những chuyện trò bên tách café, bên ly rượu chắc không phải là những
"cởi mở tâm tình" của ông. Ông chẳng có hứng thú gì để giải bày tâm
sự hoặc kể lể về những nỗi riêng tư với bất cứ ai khác, ngoài chính
ông. ("tự mình biết riêng mình và ta biết riêng ta", Ngẫu
Nhiên). Vì vậy, nói rằng thực sự "hiểu" được ông, hoặc đã cùng ông
sớt chia tâm sự thì cũng chỉ là... nói cho vui vậy. Một trong những
thú tiêu khiển của ông là mỗi ngày "ngồi trong phòng uống rượu và
nhìn nắng từ sáng đến chiều tối " (6). Ông tận hưởng cái thú
"ngồi yên lặng nhìn trời đất và suy tưởng về những điều mình chưa tự
giải đáp được cho chính bản thân mình..." (6) Ông cũng cho biết
"khoảng thời gian thích nhất là được ngồi yên tĩnh một mình trước
khi có một người bạn đầu tiên xuất hiện để phá tan sự yên tĩnh đó."
(6) Vì thế, những nỗi niềm thầm kín của ông trước sau vẫn là "một
điều dấu kín trong tim con người là điều dấu kín thôi" (Một Lần
Thoáng Có).
Rõ ràng ông không phải là dạng người có khuynh
hướng dễ bộc bạch những tình cảm và suy nghĩ riêng tư. Cách nói
chuyện cũng như cách dàn trải ý tưởng trên những trang viết của ông
đều không được rành mạch, rõ ràng. Trong cách nói và trong cách giải
thích của ông vẫn có một vẻ gì không được thoải mái lắm, và cũng ít
mang lại cảm giác thoải mái, dễ chịu cho người tiếp xúc, chuyện trò
với ông. Những người ở gần ông dễ nhận ra điều này. Nghe ông nói
chuyện, người ta có cảm giác như ông còn dấu quanh dấu quẩn điều gì,
như cố ý phủ lên những lời lẽ của ông chiếc khăn che đậy sự thật,
khiến người nghe nửa tin nửa ngờ rằng ông... "nói vậy mà không phải
vậy". Khi cần phải trả lời hay giải thích điều gì, ông thường nói
quanh nói quất, dùng thủ pháp "lăng ba vi bộ" để luồn lách, tránh
né, không dễ gì chụp bắt được. Vì vậy, những lời giải thích hay
những câu trả lời ông đưa ra thường ít làm người nghe thỏa mãn.
Khi người ta muốn biết tuổi thật của ông chẳng hạn
(câu hỏi lẽ ra không nên hỏi), ông nói: "Tôi thường không nhớ năm
sinh mà chỉ nhớ ngày sinh của mình (!?). Tôi quan niệm tất cả
mọi người sống cùng một thời đại đều có chung một tuổi, đó là tuổi
của thời đại" (6). Người ta tò mò muốn biết quan hệ tình cảm
giữa ông và ca sĩ KL chẳng hạn (câu hỏi càng không nên hỏi), ông trả
lời đấy là "một thứ tình yêu không giống những tình yêu khác...",
là "hai người bạn lãng đãng trong cuộc đời mà rất thương yêu
nhau..." (4). "Lãng đãng" như thế nào thì ông không nói
rõ. Người hỏi cũng không hỏi thêm vì thấy ông trả lời có hơi... lãng
đãng, nên chỉ còn biết suy đoán. Chắc phải là thứ tình gì đấy ở giữa
tình yêu và tình bạn, hoặc cao hơn tình bạn, lớn hơn tình yêu, hoặc
một thứ tình cảm rất đặc biệt nhưng... không có tên gọi. Một lối trả
lời mà... không trả lời gì cả để ai muốn hiểu sao thì hiểu, không
hiểu cũng... không sao.
Ông lại không phải là người nói chuyện có duyên,
dù vẫn tỏ ra hóm hỉnh. Đôi lúc có vẻ như ngôn ngữ... không đủ cho
ông diễn đạt ý tưởng, và ông phải loay hoay tìm chữ, lựa lời trong
lúc ra những điệu bộ, cử chỉ kém tự nhiên.
Ông thích bầu bạn, gần gũi với giới trẻ, thích
được các ca sĩ, các phụ nữ trẻ gọi bằng "anh", như một cách tự đánh
lừa mình, tự tạo cho mình cái ảo giác còn trẻ trung, còn sung sức,
như một cố gắng để níu kéo lại phần nào quãng tuổi xuân đã trôi qua
mất, đã tàn úa như "chiếc lá thu phai", dù biết chỉ là sự cố gắng vô
ích. Lý do khác, có lẽ vì giới trẻ thường tỏ ra dễ chịu với ông hơn
là những người lớn tuổi, ít đặt ra cho ông những câu hỏi có vấn đề,
hoặc nếu có thì ông cũng dễ dàng tránh né hơn.
Những tính cách vừa kể cũng thể hiện phần nào
trong ca từ TCS. Qua từng ý từng lời, ông cũng chỉ hé mở phần nào
cánh cửa thế giới nội tâm tiềm ẩn trong ông. Do vậy, cũng dễ hiểu vì
sao những lời nhạc của ông đôi lúc có vẻ... khó hiểu.
Phản chiến hay không phản chiến :
Đến nay nhiều người vẫn đồng ý và không đồng ý về
cái danh hiệu đầu tiên người ta gán cho TCS: nhạc sĩ "phản chiến".
Chuyện người ta gọi ông là một "Bob Dylan của Việt nam" cũng chỉ là
chuyện "một người nói (nữ ca sĩ Joan Baez), nhiều người nói theo".
Thực tế, có những điểm khác biệt không thể so sánh được, chưa nói là
phản chiến Mỹ không giống như phản chiến Việt nam.
TCS, ông chỉ là người viết ca khúc (songwriter),
trước hết cho chính ông, tiếp đến là những ca khúc về thân phận máu
đỏ da vàng chung chung, phản kháng chiến tranh chung chung, và những
bản tình ca được nhiều người yêu thích vì lạ và mới, và hay nữa tất
nhiên. Ông cũng có thời kỳ có vẻ bị lôi kéo, móc nối, nhưng chưa
"giác ngộ cách mạng" hẳn, và có những biểu hiện ấu trĩ về chính trị.
Đến khi tỉnh táo, hiểu ra thì... "tiến thoái lưỡng nan" (như tên một
ca khúc của ông), khiến đi cũng dở mà ở cũng không xong, cứ luẩn
quẩn lòng vòng, đi tới đi lui, không tìm ra lối thoát, đúng như là
câu hát thể hiện bức "chân dung tự họa": "đường chạy vòng quanh,
một vòng tiều tụy..." (Một Cõi Đi Về). Bi kịch TCS là chỗ đó.
Một người từng thú nhận "như đá ngây ngô" như ông, rõ ràng là không
thích ứng với những hoạt động chính trị và người làm chính trị cũng
chẳng dùng đến ông, hoặc nhiều lắm chỉ móc ngoặc nhằm lợi dụng trong
một giai đoạn nhất thời.
Nếu "phản chiến" được hiểu là lòng mong muốn sớm
chấm dứt cuộc chiến kéo dài triền miên, là khát vọng hòa bình, là
ước mơ thống nhất đất nước, để máu xương ngừng rơi, để các bên ngừng
tay chém giết và con người ngồi gần lại với nhau, thì mỗi người dân
Việt đều "phản chiến" chứ đâu có riêng gì TCS. Phiền một nỗi là TCS,
ông không ngừng lại ở cái nghĩa "phản chiến" tự phát từ tâm tư tình
cảm ấy, ông còn muốn dấn thêm một bước nữa, còn muốn kêu gọi mọi
người "dậy mà đi" (không rõ đi đâu), hô hào tuổi trẻ "lên đường"
(không biết đường nào). Thử nghe lại "Chính Chúng Ta Phải Nói":
Chính chúng ta phải nói hòa bình...
(hòa bình kiểu nào, không nghe ông nói!)
Chính chúng ta phải có mọi quyền (ý nói "quyền dân
tộc tự quyết" đây), đứng lên đòi thống nhất quê hương... (thống nhất
kiểu nào cũng không nghe ông nói!)
Hoặc "Gia Tài Của Mẹ", khá phổ biến một thời:
Một trăm năm đô hộ giặc Tây...
(một đứa bé lên mười ở Việt nam cũng biết là sai)
Hai mươi năm nội chiến từng ngày...
(cái tội xuyên tạc ý nghĩa cuộc kháng chiến thần thánh... "chống Mỹ
cứu nước" của nhân dân ta, có nhẹ tay lắm cũng dăm bảy năm "học tập
cải tạo" để thông suốt và nắm vững chính sách đường lối cách mạng).
Nói nhạc TCS làm suy giảm tinh thần chiến đấu của
quân dân miền Nam, làm rã ngũ, làm... mất nước là đề cao vai trò và
tác động âm nhạc của ông quá đáng. Nhạc TCS thực sự chưa có được khả
năng ấy vì không đủ trọng lượng, không đủ sức để lôi kéo, vận động
quần chúng. Lý do dễ hiểu là "phản chiến" của TCS còn "chung chung"
quá, lập lờ quá, thiếu lập trường chính trị mạnh mẽ, dứt khoát, rõ
ràng. Chưa nói đến trình độ lý luận, kiến thức chính trị của ông khá
ấu trĩ và hạn hẹp, lắm lúc tỏ ra ngây thơ và ảo tưởng. Ông đi theo
cái mà ông... không biết rõ là cái gì(!). Thật khó mà thuyết phục
người khác những điều mà chính ta còn chưa hiểu rõ lắm, nói chi đến
việc truyền "lửa" đấu tranh, cách mạng.
Một người viết nhạc gọi là "phản chiến chung
chung" như vậy làm sao có đủ sức đủ tài để lôi kéo kẻ khác về phe
mình, làm sao có đủ ma lực của "tiếng sáo Trương Lương" để làm lính
tráng phải quăng súng ống, quan quân phải rã ngũ! (Những bài bản cỡ
"anh trở về bại tướng cụt chân..." hoặc "ngày mai đi nhận xác
chồng..., anh lên lon giữa hai hàng nến chong..." còn chưa ăn thua
gì thì đàn địch hát xướng khơi khơi như ông dễ gì "mất nước" nổi!).
Làm nhạc tình yêu chung chung, thân phận chung chung thì được, chứ
không thể phản chiến chung chung kiểu "hỡi ba miền vùng lên cách
mạng" (Huế-Saigon-Hà nội) hoặc "quyết chối từ chém giết anh em"
(Chính Chúng Ta Phải Nói). Tất nhiên chẳng phe nào muốn nghe những
lời "phản chiến" kiểu đó, và ông được mời ra chỗ khác chơi là vậy.
Những bài hát, những số phận :
Nhiều người tưởng rằng TCS là nhạc sĩ ở miền Nam
Việt nam được "cách mạng" ưu đãi sau năm bảy mươi lăm. Thực tế, đâu
biết rằng ông đã từng có những năm sống lây lất, những năm "nín thở
qua sông", có khi chết dấp ở một xó rừng nào đó cũng chẳng được ai
nhắc nhở, đoái hoài. Trong những năm cả nước điêu đứng, mỗi người
phải tự "mưu sinh thoát hiểm" thì TCS, ông ở đâu? Ông như mất dấu,
như một kẻ không tên tuổi, "như cánh chim chìm xuống". Trong những
năm ấy, chẳng ai còn bụng dạ nào, còn tâm trí nào để mà thưởng thức
nhạc TCS, thậm chí chẳng ai dám nghe dám hát nhạc TCS. Phải mất
nhiều năm sau đó, phải đợi cho đến khi ông gắng gượng đứng dậy được,
gắng gượng "sáng tác" được ít bài bản đại loại "Em Ở Nông Trường Em
Ra Biên Giới", "Huyền Thoại Mẹ"... (những bài này tuyệt nhiên không
thấy trình diễn ở hải ngoại), mọi người mới nhớ ra ông, và ông mới
như từ vũng lầy nào lóp ngóp lội được lên bờ, như từ bóng tối nào
của quá khứ bước ra. Từ đó ông mới tìm lại được chút tên tuổi tưởng
đã đánh rớt đâu mất từ sau cơn bão của lịch sử... Ngồi nhớ lại những
năm nghiệt ngã ấy, ông viết: "Tôi đi trồng và gặt lúa. Tôi đi trồng
khoai, sắn ở Cồn Tiên, trên những bãi đất chằng chịt mìn có thể nổ
bất cứ lúc nào ở cửa ngõ Trường Sơn. Tôi đi chợ, nấu ăn. Tôi chở bột
mì rải trắng cả một con đường như ngày xưa Mỵ Châu làm dấu cho Trọng
Thủy. Tôi xếp hàng mua từng điếu thuốc hạng tồi. Tôi lãnh hàng tháng
một lóng tay thịt mỡ không đủ cho một con mèo ăn. Và cứ thế cứ thế,
nhiều năm, mù mịt..."(8) (Không thể nào không liên tưởng đến câu
chuyện tương tự được nhiều người biết về nhạc sĩ Văn Cao, người cũng
từng có quá trình xếp hàng cả buổi, chầu chực đến phiên mình để mua
cho bằng được lát thịt mỏng dính, và còn bị bà hàng thịt nạt nộ vì
chậm chạp khi nghe gọi đến tên "văn cao, văn thấp". Có lẽ đầu óc ông
nhạc sĩ còn đang bay bổng đến những "Thiên Thai", "Suối Mơ"... mà
quên rằng đây vẫn còn là cõi thế chứ nào có phải bồng lai tiên
cảnh!...).
Đối với giới yêu nhạc TCS ở miền Nam trước đây,
tiếc một điều là, kỷ niệm sau cùng còn giữ được về TCS trong những
ngày biến động của lịch sử lại không phải là kỷ niệm đẹp. Nói rõ
hơn, lần trình diễn cuối cùng của ông vào một ngày cuối tháng Tư
đáng ghi nhớ ấy là lần trình diễn... ít được tán thưởng nhất, và
không thể xem là màn trình diễn đẹp mắt hay thành công được. Không
những thế, nó còn khiến cả những người từng yêu mến, từng dành cho
ông nhiều cảm tình nhất cũng phải ít nhiều thay đổi cái nhìn về ông,
và dẫu có muốn bênh vực hay đỡ đòn cho ông cũng không dễ gì. Thật
khó mà biện minh là oan hay ưng, là tự nguyện hay bị ép uổng, hay là
"nạn nhân" của một vở kịch dàn dựng sao đó. Có thể là vào lúc ấy,
ông đã tưởng rằng "giờ đã điểm". Đúng là "giờ đã điểm" thật, lịch sử
đã sang trang thật, nhưng không "điểm" theo cái nghĩa hồ hởi phấn
khởi như ông tưởng.
"Nối Vòng Tay Lớn" (trong tuyển tập nhạc "Kinh
Việt Nam", 1968), ca khúc thể hiện khát vọng hòa bình, cổ xúy việc
thống nhất đất nước, thống nhất lòng người, từng có thời kỳ khá dài
là một trong những bài hát cộng đồng khá phổ biến trên môi tuổi trẻ,
sinh viên Việt nam, trong những trại hè, trại họp bạn, trong những
cao trào lên đường xuống đường, trong những "đêm không ngủ", những
đêm "hát cho dân tôi nghe". Bài hát ấy, hơn ba mươi năm về trước, ở
trong nước, mọi người đã vừa hát vừa vỗ tay rất nhịp nhàng, rất khí
thế, rất phấn khởi; thế mà giờ đây, ở ngoài nước, cách chọc giận
người khác là đề nghị... hát lại bài hát ấy. Bài hát đành mang hai
số phận, thật trớ trêu và rủi ro.
Bài hát, tự nó chẳng có lỗi gì cả. "Ta đi vòng
tay lớn mãi để nối sơn hà...", và "bàn tay ta nắm nối tròn
một vòng Việt Nam...", đấy không phải là nỗi ước mơ, là giấc
mộng của tuổi trẻ ngày ấy hay sao. Giấc mộng ấy đã không thành. Đâu
hết rồi, những con người từng sôi nổi, từng say sưa hát bài hát ấy.
Tất cả bỗng nhiên biến mất, không ai chịu đến với TCS, không ai chịu
đứng xếp hàng quanh ông để mà "nối vòng tay lớn" như đã từng. Ông
đứng chơ vơ một mình giữa vòng tròn tưởng tượng, cái vòng tròn ảo
tưởng thật rộng lớn mà ông đã không vẽ ra được. "Hãy ở lại! Hãy
cùng nhau nối vòng tay lớn...," mặc cho ông ra sức kêu gào một
cách tuyệt vọng, mọi người vẫn ùn ùn bỏ chạy, chẳng ai nghe ông nói,
nghe ông hát. Tội nghiệp, tiếng kêu gào, tiếng hát, tiếng đàn của
ông bị nhận chìm trong làn sóng, trong cơn bão hoảng loạn. "Giọng
hát thất thanh, với tiếng đệm đàn guitare rất là sai dây...,"
(1) nhạc sĩ Phạm Duy đã nhớ lại và ghi lại trong hồi ký của ông.
"Anh em ta về gặp nhau mừng như bão cát, quay cuồng trời rộng...",
chẳng ai hiểu ông hát những gì. Mọi người còn đang nhốn nháo, hoảng
hốt, lo tìm một con đường sống. "Quay cuồng trời rộng...",
quả đúng là trời đất quay cuồng thật, và lịch sử cũng chao
nghiêng...
Bài hát gắn liền với tên tuổi ông, bài hát kêu gọi
xóa bỏ hận thù, nối lại tình người, các bên đều là "anh em", bài hát
ấy sau cùng đã không được đáp nhận, cũng không khác chi một loạt
những ca khúc "phản chiến" của ông trước đó đã chẳng được bên nào
đáp nhận, nhiều lắm cũng chỉ được xếp chung với những bài du ca một
thời của sinh viên, học sinh. Bài hát, thật rủi ro, vì đã cất lên
không đúng nơi đúng lúc, không hợp tình hợp cảnh. Bài hát, là cái
"hố " lớn nhất trong đời ông, cũng là do những "ngây ngô" và ấu trĩ
về chính trị. Cái "hố " ấy, thật nghiệt ngã, chỉ đến có một lần,
"một lần là trăm năm" như một câu hát của ông. Tiếc một điều là
ngày trước, khi "cuộc chiến chưa tàn", nếu ông đã tiên cảm
được chuyện "đêm nay hòa bình sao mắt mẹ chưa vui..." (Sao
Mắt Mẹ Chưa Vui), thì đúng lý ra ông cũng phải "thấy" được rằng,
chuyện "nối vòng tay lớn" sau "ngày tàn chiến cuộc" là chuyện làm
sao mà có nổi!
Thực tế, mãi đến bây giờ, người ta cũng chỉ phê
phán người hát chứ không phê phán bài hát. Có vẻ như người ta không
muốn nhắc nhở, đả động gì tới bài hát ấy, làm như không biết tới nó,
làm như nó chưa hề ra đời vậy, đến nỗi nó cũng vắng mặt như một dấu
lặng, không có một lời giải thích trong tuyển tập nhạc "Những Bài Ca
Không Năm Tháng" (gồm những bài nhạc tiêu biểu cho từng thời kỳ sáng
tác, do chính người nhạc sĩ tuyển chọn, để lại cho đời). Kể ra thì
cũng khó mà lạnh lùng ngoảnh mặt quay lưng với những gì mà ta đã
từng có một thời yêu thích.
"Nối Vòng Tay Lớn" trở thành nỗi chua xót, ngậm
ngùi, trở thành bài hát bẽ bàng cho ông và cho cả những người từng
có một thời sôi nổi hát, sôi nổi sống trong những năm tháng khó quên
ấy. Bẽ bàng như cử chỉ chìa tay trước mặt người nào để làm thân mà
"người ta" lạnh lùng ngoảnh mặt quay lưng, không thèm bắt. Bẽ bàng
đến độ người ta đã muốn quên đi là đã từng có một bài hát như thế.
Người nhạc sĩ sáng tác bài hát ấy, ông đã làm cho bài hát được yêu
thích một thời và quên lãng một thời.
"Nối vòng tay lớn" là một giấc mơ thật đẹp. Chỉ
tiếc rằng mãi mãi bài hát vẫn chỉ là một giấc mơ.
"Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên" cũng là một trường hợp
lạ. Bài nhạc nội dung có vẻ "vòng tay chờ đợi" này có giai điệu và
lời lẽ thật đẹp, thật thiết tha đánh vào tâm tư tình cảm người Việt
tha hương, gây "dị ứng" không những đối với khối người Việt ở hải
ngoại mà cả với nhà nước Việt nam vì những cái "vẫn" nằm rải rác
trong những câu hát: "em ra đi nơi này vẫn thế",... "vẫn có em
trong tim của mẹ",... "vườn xưa vẫn có tiếng me ru, có tiếng
em thơ",... "lá vẫn xanh trên con đường nhỏ",... "có hai mùa vẫn đi
về",... "thành phố vẫn có những giấc mơ, vẫn sống thiết tha, vẫn lấp
lánh hoa trên đường đi"... (nhưng nếu bỏ những chữ "vẫn" ấy đi
thì bài hát... không còn là bài hát).
Người Việt hải ngoại "dị ứng" thì cũng dễ hiểu,
nhưng sao lại cũng "dị ứng" cả với những người cầm quyền ở trong
nước? "Em ra đi nơi này vẫn thế," cả hai phía đều quyết liệt phủ
nhận. "'Vẫn thế' thế đ. nào được," người ở ngoài nước văng tục, "một
đất nước tang thương đến như vậy!" Giới lãnh đạo trong nước cũng đời
nào chịu: làm sao có chuyện "vẫn thế" được, đã "giải phóng", đã
"cách mạng" mấy niên rồi, bắt buộc phải đổi khác chứ! "Vẫn thế"
nghĩa là vẫn còn tàn dư chế độ cũ, là "tụt hậu", là đi ngược lại xu
thế thời đại, là kìm hãm những bước nhảy vọt (tội ấy có nhẹ tay lắm
cũng phải gò lưng viết "bài kiểm điểm"). Rốt cuộc bài nhạc nghe
không thuận tai ấy đành mang số phận không may, trở thành vô duyên,
lạc lõng vì chẳng được bên nào đón nhận hay dành cho chút cảm
tình...
Cái rủi ro khiến cho TCS là một con người--như
những bài hát của ông--mang đến hai số phận. Có lẽ sau cùng, chỉ còn
lại những tình khúc TCS, chỉ còn lại những bản tình ca không biên
giới, không sắc màu của ông là còn ở lại được trong lòng người về
lâu về dài. Tình ca, sau cùng là tiếng nói "người" nhất, là tiếng
nói duy nhất trong âm nhạc không gieo rắc những nghi kỵ, những tị
hiềm.
Cây sậy TCS :
Nếu những người từng yêu mến TCS đã phải ít nhiều
thất vọng về ông sau này thì lỗi ấy không phải do ông mà do người ta
đã đánh giá ông sai lệch, đã kỳ vọng nơi ông nhiều quá. Ông không có
khả năng đáp ứng những gì người ta trông đợi nơi ông, thậm chí lắm
lúc ông còn đi ngược lại nữa là khác.
Có một câu nói quen thuộc của Pascal mà TCS vẫn
hay trưng dẫn trong những bài viết ngắn của ông, "l'homme est un
roseau, mais un roseau pensant", mỗi khi ông triết lý vặt về cuộc
đời, về con người, về thế thái nhân tình... Trong một nghĩa nào đó,
câu này có thể dùng được để mô tả tính cách con người ông.
TCS, ông chỉ là một "cây sậy", hơn thế nữa, là một
cây sậy yếu hèn (cho dù có là "cây sậy biết suy nghĩ" tới đâu).
Trong lớp vỏ của một cây sậy, của một thể chất yếu đuối, là một bản
chất yếu đuối, đôi lúc bộc lộ thật rõ nét.
Là cây sậy, ông khó mà đứng thẳng trước những trận
gió ào ạt, những trận cuồng phong. Ông phải cúi rạp xuống. Là cây
sậy, ông cũng tham sống sợ chết, cũng thích ăn ngon mặc đẹp, cũng
run sợ trước bạo lực, cũng lo âu trước những nỗi bất an, những mối
đe dọa rình rập... "Tôi sợ...," ông nói, từ
chối lời đề nghị của những người bạn muốn đưa ông sang Mỹ để điều
trị căn bệnh khó chữa.
Ít có ai ngờ rằng, ẩn dấu bên trong con người từng
viết những lời ca đầy khí thế cách mạng, rực lửa đấu tranh ấy lại là
một trái tim yếu mềm, một tâm hồn mang thương tích, làm sao mà có
thể "thoát yếu hèn, dựng thân cao lớn" nổi, như là câu hát trong một
ca khúc "phản chiến" của ông (Chính Chúng Ta Phải Nói).
Một số ca khúc của ông, chưa nói đến nội dung, có
khi chỉ cần nghe qua cái tựa là người ta có thể biết được tác giả là
ai (Ru Ta Ngậm Ngùi, Cỏ Xót Xa Đưa, Bên Đời Hiu Quạnh, Nghe Những
Tàn Phai, Im Lặng Thở Dài, Như Chim Ưu Phiền, Buồn Từng Phút Giây,
Lặng Lẽ Nơi Này...). Trong những sáng tác về sau này, nhất là vào
những năm cuối đời, ta nghe thấy ông gửi gấm những nỗi niềm mà ông
gọi là "nỗi lòng của kẻ tuyệt vọng". Ở những ca khúc này (Rơi Lệ Ru
Người, Ru Đời Đã Mất, Ru Đời Đi Nhé, Giọt Lệ Thiên Thu, Tôi Ơi Đừng
Tuyệt Vọng...), người ta nghe thấy có nước mắt, có lệ rơi trong
những câu hát...
Rơi lệ ru người từ đây...
(Rơi Lệ Ru Người)
Tôi là ai mà còn khi dấu lệ... (Tôi Ơi, Đừng Tuyệt Vọng)
Từng dòng nước mắt sẽ tiếc cho ngày vui... (Còn Có Bao Ngày)
Giật mình nhìn tôi ngồi khóc bao giờ... (Bên Đời Hiu Quạnh)
Ông tự ví mình như con chim buồn, chim đau, chim
bệnh, chim ưu phiền, chim vô vọng, thôi thì đủ loài chim chóc, chim
nào nghe cũng sầu thảm, đủ thấy tay nhạc sĩ này quả là yếu đuối và
cô đơn biết chừng nào:
Tôi như con chim bệnh
thiếu hạnh phúc trần gian
có những tháng mùa đông
ngồi khóc rất âm thầm
...
trong tim tôi có lần
một mùa ôi rất lạnh
(Như Chim Ưu Phiền)
Ông nói về nỗi tuyệt vọng, ông muốn "tôi tìm
lại tôi" (Tiến Thoái Lưỡng Nan), tìm lại chính mình. Tôi là ai,
tôi là ai??? Câu hỏi như lời khẩn khoản, như niềm trăn trở, như nỗi
khát khao muốn biết, muốn được trả lời. Là ai, là ai, là ai??? Những
câu hỏi liên tiếp ném vào hư vô, lặp đi lặp lại nhiều lần, chỉ có
những tiếng vọng dội lại từ những vách đá lạnh lẽo, những bức tường
câm lặng, thay cho câu trả lời...
Như đá ngây ngô, ông
có lần tự ví mình như vậy. Thế nhưng, thay vì chịu nằm yên một chỗ,
ông lại cứ muốn làm hòn đá... lăn (như là "đá lăn, vết lăn trầm"),
thế mới rầy rà. Thực ra, ông không cần thiết phải làm những gì người
khác không buộc, không yêu cầu ông làm (trừ phi ông… cũng muốn làm).
Ông đã có những bài hát rất hay về các bà mẹ ("Lời Mẹ Ru", "Ca Dao
Mẹ"... chẳng hạn), ông không cần phải viết thêm "Huyền Thoại Mẹ".
Ông đã có những câu hát thật dễ thương về các cô gái như là "em qua
công viên mắt em ngây tròn..." (Nắng Thủy Tinh), ông không cần phải
viết thêm "Em Ở Nông Trường, Em Ra Biên Giới". Ông cũng không cần
phải viết "Khăn Quàng Thắp Sáng Bình Minh" khi mà ông có thể viết
những bài hát thiếu nhi hay hơn thế nhiều ("Em Là Hoa Hồng Nhỏ"
chẳng hạn), và chẳng ai có ý kiến gì được. Ông cũng không cần phải
viết "Ngọn Lửa Mát-xcơ-va", ở vào một thời kỳ mà ai cũng biết rằng
ngọn lửa ấy sắp sửa... lụi tàn. Ông cũng không cần, không cần... Tuy
nhiên, như kẻ phóng lao phải theo lao và như "hòn đá lăn trên đồi"
(Ngẫu Nhiên), ông cứ phải lăn thôi, lăn mãi lăn mãi đến tuột dốc...
Ông không ngừng lại được nữa.
Cái yếu đuối và thiếu suy xét ở con người TCS còn
biểu lộ ở những mặt khác. Ông thích "triết lý", thích đào xới,
nghiền ngẫm những mảng triết học từ đông sang tây, mặc dầu vẫn biết
cái món trang sức ấy chỉ là giả hiệu, chỉ là "những luận điệu phỉnh
phờ". Ông cũng thích viện dẫn những triết lý tiềm ẩn trong trong tôn
giáo, mặc dầu vẫn cho rằng "những đấng tối cao có lẽ đã ngủ quên
cùng với chân lý". Ông như người tự đánh lừa mình, tự nhận chìm mình
trong ảo giác bềnh bồng tìm được sự cứu rỗi và cõi an bình trong thế
giới triết học và tôn giáo ấy. Không lấy làm lạ ông vẫn hay nói đến
những an nhiên, những vô vi..., trong lúc cái "tâm" ông lại ít khi
nào được yên tĩnh như mặt nước phẳng lặng mà chỉ là những "biển
sóng, biển sóng đừng xô tôi, đừng xô tôi ngã dưới chân người..."
(Sóng Về Đâu).
"Tôi đã mỏi dần với lòng tin," sau cùng ông đã
phải thốt lên như vậy, "chỉ còn lại niềm tin sau cùng: tin vào niềm
tuyệt vọng, có nghĩa là tin vào chính mình"(8). Tôi cho rằng ông chỉ
nói là nói vậy, ngay cả "tin vào niềm tuyệt vọng" hoặc "tin vào
chính mình", cũng chưa chắc ông đã chịu tin. Nếu quả là "tin vào
chính mình" thật thì ông đã không đến nỗi phải... tuyệt vọng. "Tin
vào niềm tuyệt vọng" chỉ là một cách nói. Chẳng qua ông hiểu rằng
ông phải đương đầu, phải trực diện với nỗi tuyệt vọng ấy từng ngày
từng giờ, và ông chẳng có cách nào khác hơn là phải thỏa hiệp, phải
gắng gượng mà sống chung hòa bình với nỗi tuyệt vọng ấy để tìm cái
vui, để thấy "tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa"(8), lại một cách
nói khác của ông.
"Có những ngày tuyệt vọng đến cùng cực, tôi và
cuộc đời đã tha thứ cho nhau..."(8), ông nói, vẻ ngậm ngùi. Tôi thực
tình không rõ cuộc đời đã làm gì, đã có lỗi gì với ông để ông
phải... tha thứ(?). Trong những lời lẽ đầy vẻ "từ tâm" ấy, ta vẫn
nghe có chút gì không thật, lẫn chút gì cay đắng.
Ông cứ phải lặp đi lặp lại, phải "triết lý" mãi về
những "biên giới thù nghịch", những hờn oán, những thứ tha và tha
thứ, những quên lãng và lãng quên..., đại khái "trong lòng tôi
không có giây phút nào nuôi lòng oán hận đối với cuộc đời, dù có đôi
khi nhân gian bạc đãi mình và con người phụ rẫy mình" (3), hoặc
"ta biết tha thứ những điều nhỏ thì cuộc đời sẽ tha thứ cho ta
những điều lớn hơn" (3), hoặc "mọi người đều cảm thấy mình
thực sự hạnh phúc khi biết xóa đi cái biên giới thù nghịch trong
lòng mình" (8)... vân vân. Không chừng đấy cũng lại là những "ám
ảnh" thường trực nào khác nữa ngoài nỗi ám ảnh về cái chết của ông.
Ám ảnh về "quên" chẳng hạn, thì thật... khó mà quên. Ông đã tập
quên, tập tha thứ, để mong được quên, được tha thứ. Thế nhưng ông
không dễ gì quên, không dễ gì tha thứ hay thôi hết oán hận chừng nào
ông vẫn chưa thoát ra được những ám ảnh ấy.
Với những lời ngợi khen, ngưỡng mộ, ông đáp lại
với vẻ khiêm tốn: "Tôi không bao giờ có tham vọng trở thành người
viết ca khúc nổi tiếng, nhưng đời đã tặng cho tôi món quà ấy thì tôi
không thể không nhận." (3) Với những lời chê trách, nguyền rủa,
ông tỏ ra bất cần: "Tôi không quan tâm lắm đến dư luận, nhất là
thứ dư luận không mang tính cách xây dựng. Vấn đề của người sáng tác
là tập trung vào việc sáng tạo chứ không phải ngồi chờ nghe dư luận
nói gì về mình... Phản ứng của tôi là im lặng và lãng quên những lời
dị nghị. Người ta không thể đánh mãi vào khoảng không được." (3)
Quả là phản ứng của con người tự chế và khôn ngoan. Những người oán
ghét ông đã chỉ mong ông lên tiếng, nhưng ông đã làm họ thất vọng.
Dẫu sao, TCS, ông không cần phải đấm ngực vò đầu
"đời tôi ngốc dại" hay "im lặng thở dài" mãi. Nếu ông có ngốc dại
hay yếu hèn thật thì cũng chẳng phải mình ông. Ngay đến cái tội danh
"làm mất nước" kia, ông cũng không dành lấy độc quyền được nữa.
Nhiều năm sau cuộc đổi đời, ngày càng có thêm nhiều người, vì chút
lòng tự trọng, đã thành khẩn tự thú "tôi làm tôi mất nước".
Con người TCS, qua cánh cửa hé mà tôi nhìn thấy
được, nghĩa là cái phần mà ông cố ý cho thấy, có vẻ như ông muốn thể
hiện hai điều: một mặt, ông như muốn tự phơi bày mình như con người
phàm tục, yêu ghét, hay dở, tốt xấu lẫn lộn ("tôi là ai mà còn
trần gian thế ") ; mặt khác, ông cho thấy nơi ông tấm lòng nhân
ái bao la, yêu đồng loại, yêu đất nước yêu quê hương, như muốn ôm
lấy hết cuộc sống trong tay vậy ("tôi là ai mà yêu quá đời này"
). Tôi không chắc lắm cách thể hiện nào thực sự phù hợp với ông,
phản ánh tính cách con người ông hơn, có điều thể hiện cùng một lúc
hai điều ấy không phải là dễ dàng.
Dù cách nào đi nữa, vào những năm tháng cuối đời,
ta thấy ông như ngọn đèn lụn bấc, như đã mất hết khí lực, như đã vắt
kiệt đời mình. Ông chỉ còn là cây sậy khô héo.
Lê Hữu
(còn tiếp)
Báo VĂN HỌC
số Tân Niên tháng 02-03/2004
(1) Phạm Duy, Hồi Ký: Thời Phân Chia Quốc Cộng,
nxb Phạm Duy Cường, California, 1991
(2) TCS, Trịnh Công Sơn, Rơi Lệ Ru Người, nxb Phụ
Nữ, Hà Nội, 2001
(3) TCS, trả lời phỏng vấn, Trịnh Công Sơn, Một
Người Thơ Ca, Môt Cõi Đi Về, nxb Âm Nhạc & TTVH Ngôn Ngữ Đông Tây,
Hà Nội, 2001
(4) TCS, tạp bút, Một Cõi Trịnh Công Sơn, nxb
Thuận Hóa & TTVH Ngôn Ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2002
(5) Văn Cao, lời bạt, Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên,
nxb Trẻ, TP.HCM, 1991
(6) TCS, trả lời phỏng vấn, Tạp chí Thế Giới Mới,
TP.HCM, 2/1999
(7) Quỳnh Giao, Trịnh Công Sơn, Như Cánh Vạc Bay,
Tạp chí Văn Học, California, 10&11/2001
(8) TCS, tạp bút, Trịnh Công Sơn, Người Hát Rong
Qua Nhiều Thế Hệ, nxb Trẻ, TP.HCM, 2001
Những chữ in nghiêng trong bài là trích ca từ TCS.