Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Tám Trí (1924 - 2002)

Nguyễn Thuyết Phong, Ngày đầu thu 2002, Cleveland, Ohio


"Dạ thưa chú Phong, con là Vân gọi cho chú hay tía con mất rồi" Tôi nghe như chết nửa thân người. Tiếng nói đầy xúc động của Vân mang đến tôi một tin như sét đánh. Thế là một cây cổ thụ thứ hai trong làng cổ nhạc miền Nam vừa ngã đổ! Cách đây chưa đầy một năm, nghệ sĩ cải lương Việt Hùng đã ra đi. Nay lại đến nhạc sĩ Tám Trí. Hình ảnh bộ ba chúng tôi ngồi đờn ca trong một buổi trưa hè nắng ấm Garden Grove hồi năm ngoái chợt hiện ra trong tôi, nay với niềm mất mát, ray rứt vô cùng!

Tin ngắn ghi trong máy trả lời điện thoại gởi đến tôi chưa được nghe vì đúng lúc ấy tôi đang bận duyệt cho buổi trình diễn Mystical Connections tưởng niệm các nạn nhân vụ thảm sát 11 tháng 9. Không hiểu sao, nhạc sĩ Halim El Dabh, nhà sáng tác nhạc hiện đại danh tiếng, đêm hôm ấy đến nói với tôi nhiều lần rằng ông nghe trong tiếng đàn tôi có một vibration (rung động) kỳ diệu, lạ lùng ít khi có. Ai biết được có chăng một thần giao cách cảm nào đó?! Bận rộn cho đến quá nửa đêm tôi mới xong; sáng hôm sau tôi mới nghe được tin trong máỵ

Niềm giao cảm lớn của tôi trong 17 năm sống ở Mỹ là nhạc sĩ Tám Trí (tức Lê Thành Trí, Lê Văn Thạnh, hay Thomas Lê). Về phương diện chơi nhạc, kiến thức về nền âm nhạc miền Nam Việt Nam, những "thần giao cách cảm" giữa chúng tôi vượt ngoài khuôn khổ tuổi tác. Tôi xem ông như người chú, người thầy; ông xem tôi như bạn.
Con cái trong nhà đều gọi tôi bằng chú và thân mật như người thân trong gia đình tự thuở nào. Tôi trân trọng tấm lòng ấy, và mỗi dịp sang Cali là mỗi lần ghé thăm để đờn ca suốt buổi, đến giờ ăn trưa, ăn chiều, vì ngoài âm nhạc và những hàn huyên về âm nhạc ra chúng tôi không còn thấy gì hơn.

Trong cái nhộn nhịp kinh tế của cộng đồng cư dân  người Việt nơi đây, ít biết có một nơi không giống nơi nào khác. Nhà ông là một tụ điểm âm nhạc không nhãn hiệu, lúc nào có sẳn các nhạc cụ như tranh, kìm, cò, gáo, bầu, sến, kèn, sáo, ghi-ta, v.v. khi ông có nhà, bạn cứ ghé qua đờn ca với ông. Trong các buổi nghiên cứu điền dã, cũng như khi có dịp về dạy ở UCLA, tôi đưa các sinh viên của tôi đến thăm viếng ông để được gặp tận mặt một nghệ nhân Việt thuần túy trên đất Mỹ hầu có một khái niệm về nhạc cụ dân tộc, về đời sống của một di dân âm nhạc, bối cảnh cộng đồng Việt, và đặc biệt hơn nữa là lý do tồn tại của âm nhạc dân tộc mà Tám Trí là một biểu tượng cụ thể nhất.
Có những con người như ông, sống trong "đạo đức âm nhạc Việt Nam". Ông mang trong người một loại nhạc có một chiều sâu, một tiềm ẩn, một đạo đức không vinh thân vì tiền, vì danh. Bề ngoài của ông là một con người chất phác, gốc gác nông dân, không màu mè. Dù có đôi lần ông cũng được vinh danh-tương đối rất nhỏ so với những nghệ sĩ tên tuổi trên thị trường âm nha.c-nhưng thực ra, ông không phải là một con người đi tìm cái ấỵ Ông cư ngụ ở một nơi khiêm tốn, bạn sẽ thấy chỉ có âm nhạc suốt ngàỵ Bà Tám vốn là người phụ tá đắc lực, đảm đang, người hỗ trợ ông đến suốt đời. Bà chăm sóc, tiếp đãi khách văn nghệ của ông mà không bao giờ có một tiếng thở than. Sự khiêm cung và gìn giữ vốn quí dân tộc của ông là một niềm quí trọng trong tôi từ khi mới quen nhau.
Người ta sẽ không thấy điều nhiều điểm đặc biệt trong ông, nếu không thực sự bàn về nhạc với ông. Dù ông không phải là một học giả, ông không viết về nhạc, ông không hội luận về nhạc, nhưng không vì thế mà cho rằng ông không "biết" về âm nhạc. Cái kiến thức của ông thật to lớn mà mỗi khi quên tôi thường đến nhờ ông nhắc lại, không những về mặt bài bản mà còn về bối cảnh âm nhạc ở miền Nam Việt Nam trước thập niên 50. Ấn tượng sâu sắc nhất trong tôi là những đêm nằm nghe ông kể chuyện xa xưa về bài bản, về cuộc sống của ông trong lúc tôi thực hiện công trình nghiên cứu âm nhạc Việt tại Hoa Kỳ (1987 - 1989). Câu chuyện càng về khuya, càng cảm thấy hứng khởi. Khi thân xác mỏi mệt, chúng tôi mỗi người phải nằm xuống nghỉ trên hàng ghế hai bên bàn ăn. Câu chuyện về cuộc đời ông vẫn tiếp tục kể trong lúc máy ghi âm vẫn chạy đều đều phía dưới bàn cho đến khi cả hai chúng tôi đi vào giấc ngủ không biết lúc nào.

Quê ở Rạch Sỏi, Rạch Giá, ở cuối miền đất nước, nông thôn nơi đây đã tạo nên một con người như ông thật là hiếm hoi. Sinh ra trong một gia đình nông dân, từ thuở nhỏ đã đi làm ruộng nhưng bắt đầu chơi nhạc rất sớm do thân sinh ông chỉ dạỵ Bao giờ? Lúc mấy tuổỉ Chính ông cũng không biết điều ấy! Nhưng chính cái điều "không biết" ấy mới là cái "giòng máu âm nhạc". Ông tuổi Thìn, tức sinh năm 1928. Cái "con rồng" nhỏ bé ấy đã tung hoành ngang dọc một đời bằng âm nhạc, bằng bất cứ nghề nghiệp nào miễn sao sống được mà vẫn giữ cho âm nhạc được thanh cao. Nghề nông, nghề đổi nước ngọt đến dân vùng biển, nghề thợ mộc, thợ nề, v.v. Mặc dù không được đi học ở trường lớp, ông là người có trí tuệ tinh tường, vẫn biết đọc, biết viết. Vào thăm gia đình ông, nghe con cái gọi ông bằng "tía" với giọng nói, lối sống, cách ăn uống đặc sệch miền Nam, không ai biết được rằng ông nội của ông còn chứa đầy chất giọng đồng bằng sông Hồng mà thuở nhỏ ông vẫn thường nghẹ Có thể đây là một gia đình từ Bắc di cư vào Nam vào cuối thế kỷ 19.

Nhưng lý do nào khiến ông say mê âm nhạc? Qua những cuộc trò chuyện với ông, tôi chỉ thấy một lý do duy nhất là
bản năng và sở thích. Chính cái bản năng âm nhạc nầy đã khiến ông tham gia bất cứ hình thái, thể loại nhạc nào đang diễn ra trong giai đoạn thơ ấu và thiếu niên của ông: nhạc lễ, hát bội, đờn ca tài tử, cải lương, hát xiệc Sơn Đông, v.v. Khoảng 16 tuổi, ông đã chu du khắp xứ, đem ống sáo, đem tiếng ca, đóng trò lưu diễn ra đến tận Hà Nội. Ngoài điêu luyện về môn đờn cò, ông cũng xuất sắc về bộ môn thổi như sáo và kèn.

Nhạc lễ là một hình thức âm nhạc gắn liền với lễ hội, với các nghi lễ Phật Giáo dân gian trong lúc cúng kiến, tang ma, trai đàn. Nó còn là một loại nhạc nồng cốt cho đờn ca tài tử, hát bội và cải lương. Chính vì vậy mà ông "nắm bắt" được cái nồng cốt ấy cho sự nghiệp của ông mãi về saụ Ông từng gần gũi đời sống nhà chùa, từng ăn chay, làm đám cùng với các kinh sư nơi bổn tự của Thượng Tọa Minh Mẫn (đương kim Viện Chủ Chùa Huệ Quang, Westminster) lúc ngài còn thiếu thờị Nhờ đó mà bài bản nhạc lễ của ông thêm giàu có. Cũng qua trục nhạc lễ mà người thanh niên mê nhạc nầy được gặp gỡ Mười Kiên (tức Trầm Văn Kiên), một nhạc sư tài năng xuất chúng vùng Sông Hậu và cả đồng bằng
sông Cửu Long. Khi gặp ông ở Mỹ, biết qua câu chuyện nầy tôi mới cảm thấy gần gũi với ông nhiều hơn. Lý do là người mà ông quí nể, tìm học, cũng chính là thầy quí kính của tôi và nghệ sĩ Chí Tâm. Sự liên hệ giữa ông và chúng tôi trở nên thắm thiết hơn, xem nhau như huynh đê.. Cũng qua ông mà tôi biết được sự gần gũi giữa thầy Mười Kiên và thầy Sáu Lầu (tức Cao Văn Lầu, người khai sinh bản Vọng Cổ).

Trong buổi phỏng vấn ông do nhạc sĩ Hoàng Việt Khanh và cô Ông Thụy Như Ngọc thực hiện vào mùa Xuân 2002, ông
thường nhấn mạnh về bài bản lễ nhạc Phật Giáo và lễ nhạc dân tộc bao la như rừng, biển. Quan hệ của nhạc lễ và nhạc Phật không thể tách rời. Vì vậy mà ông cũng biết tán tụng như các thầỵ Ông nói "nếu không biết tán tụng thì làm sao làm nhạc lễ được, biết đâu là mò". Ông cũng thường nói về cái phong phú của nhạc truyền thống dân tộc: "Học không thể nào hết".
Việc mê ca hát cũng đã đem ông đến những cuộc hát bội, đờn ca tài tử, và cải lương. Vốn liếng của ông về hát bội cũng là điều làm tôi rất ngạc nhiên một cách lý thú. Ông từng đóng vai Tề Thiên, ca và múa minh họa cho tôi xem. Ông nói là khi nhảy lên bàn (tức là biểu tượng cho qủa núi) phải dùng thế khiến thân mình nhẹ nhàng để không làm sập bàn! Ngoài ra ông cũng từng đóng vai hề khá thành công. Dù chưa thấy, nhưng tôi tin là có thật, vì ông có một cách nói chọc cười rất tự nhiên luôn luôn có trong người ông. Khi đi trình diễn chung với đoàn của chúng tôi ở các tiểu bang New York, Ohio, Louisiana, Washington, v.v. ông đem lại cho chúng tôi niềm vui qua cách nói khôi hài, tự tin khiến chúng tôi cười lăn rạ Không những thế, trong cái hài của ông còn chứa đựng cái thâm trầm, sự thông minh, lý lẽ. Có lẽ nhờ đó mà sinh hoạt trí tuệ của ông cho âm nhạc rất tinh.

Trong đờn ca tài tử, ông nghe được một tiếng ca, tiếng đàn, một chữ nhấn và đánh giá được tài năng của người ca, người đàn tức khắc. Nghe được cái hay của một chữ nhấn (luyến láy), một nhịp tiết trong nhạc truyền thống không phải là chuyện dễ. Ông biết đánh giá tiếng nhạc của người khác, tức ông cũng biết đánh giá tiếng đàn của chính mình. Tiến sĩ Peter Laki (dàn nhạc giao hưởng Cleveland Orchestra) khi nghe tiếng đàn ông hết sức cảm kích và cho ông là virtuoso performer.

Âm nhạc của ông, vì vậy, là một dòng tuông chảy từ nhạc lễ, hát bội, đờn ca tài tử và cải lương nhuần nhuyễn và đi đến siêu hạng về số lượng bài bản lẫn diễn tấu. Đối những người cho rằng cổ nhạc miền Nam là vọng cổ, ông chỉ mỉm cườị Có khi ông xác định vấn đề: "nam ai, hay nam xuân, nam đảo nàỏ" Nhạc lễ, tài tử, hay cải lương? Phân biệt được điều nầy không phải là chuyện dễ, đặc biệt hơn nữa là trong bối cảnh ở Mỹ khi nhạc phổ thông, thương mãi đang lấn át ồ ạt khiến người ta càng phân vân hơn.

Ông là một trong những nhạc sĩ cải lương nồng cốt trong những buổi diễn. Các nghệ sĩ Việt Hùng và Hùng Cường lúc còn sinh thời, cũng như các nghệ sĩ, nhạc sĩ như Ngọc Nuôi, Dũng Thanh Lâm, Kim Tuyến, Chí Tâm, Hà Mỹ Hạnh, Thu Hồng, Nguyễn Châu, Ngọc Thanh, Văn Hoàng, v.v. có lẽ không thể nào quên được mối tình tri âm tri điệu với ông. Không có một bài bản nào mà ông không biết. Không có nhạc cụ cải lương nào mà ông không thông, dù chuyên hay không chuyên. Cái mênh mông, bao la về tài năng của ông trong truyền thống ca nhạc dân tộc miền Nam qua sự hiện
diện của ông đã gây trong tôi một niềm hãnh diện về dân tộc tôi khi phải phát biểu về nó đối với cộng đồng Mỹ và các sắc dân ở Mỹ. Không những thế, sinh hoạt mật thiết với ông từ 15 năm qua tôi còn thấy được cái cầu tiến trong con người ông. Châm ngôn của ông, như trên đã nói, là học mãi không hết. Vì vậy, mỗi khi nghe một bài mới, ông đều bắt lấy, luyện tập. Không một nhạc cụ nào đến tay ông mà ông từ chốị Những bài dân ca đi vào cải lương gần đây ông
cũng sẳn sàng thiếp thụ Những bài dân ca, ngâm thơ miền Trung và miền Bắc ông cũng nhanh nhẹn đuỗi bắt không
ngần ngạị Ca sĩ Hoàng Oanh nhiều lần nói với tôi về sự qúi mến tài nghệ trong lúc ông đàn cho cô ngâm thơ,
hát dân ca 3 miền. Điều nầy trước đây ông chưa hề làm. Qủa tình là một sự hội nhập nhanh chóng.

Qua chương trình giới thiệu âm nhạc Việt Nam, tôi đã đưa khán thính giả Mỹ đến khung trời nghệ thuật âm thanh của Tám Trí ở Metropolitan Museum of Art và World Music Institute (New York), Viện đại học Kent State (Ohio), UCLA, trong các CD nhạc Eternal Voices (hãng Lyrichord), Song of the Banyan (hãng Music of the World), v.v. Công trình Âm Nhạc Việt Nam tại Hoa Kỳ mà tôi thực hiện từ năm 1987 có sự bảo lưu tiếng đàn của ông hiện còn được lưu trữ tại Folklife Center, Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ (Library of Congress) và Center for the Study of World Musics, Viện đại Kent State (Ohio).

Gần đây, Giải Khuyến Học (Viet Olympiad) và sinh viên Nguyễn Văn Đức vừa thực hiện xong chương trình ghi âm ông, nghệ sĩ Việt Hùng và các nghệ sĩ cải lương khác với sự bảo trợ của National Endowment for the Arts. Riêng gia đình ông cũng đã thực hiện một sưu tập có ý nghiã giữa ông và các nghệ sĩ ở Little Saigon qua một CD mang tên Ánh Nắng - Ánh Trăng (hãng Song Lang).
Điều nầy nghe qua có vẻ lạc quan về mức độ thu thập về ông. Tuy nhiên, nhận định của tôi vẫn xem đó chỉ là một phần nhỏ, chưa thật sự ghi đủ hết về vốn liếng của ông. Những câu thúc về thời gian và hoàn cảnh làm việc của tôi vẫn chưa thể tiến hành hết như dự kiến. Điều kiện chưa cho phép kết tập hết những khả năng, đặc biệt về nhạc lễ của ông. Vã lại, làm nhạc cần phải có "đủ tay". Nhưng làm sao thực hiện được điều nầy khi chỉ có đôi ba người có khả năng đang sống trên miền đất tạm dung?! Tuy nhiên, một dịp hiếm có lại đến là Đại giới đàn Huệ Quang được tổ
chức năm 1989. Năm ấy ông và tôi thực hiện nhạc lễ.

Chúng tôi gấp rút hướng dẫn hai cháu Khánh và Tài, hai người con trai của ông, để thực hiện buỗi diễn. Dù chưa được một ban "ngũ nhạc" (quintet) với kèn, trống và các nhạc cụ khác, nhưng cũng diễn tấu cùng lúc tiến hành các nghi lễ Phật Giáọ Dù không thể diễn tấu hết những bài đàn dội, đàn chập (thường dài từ 20 phút đến 1 giờ), nhưng đây là dịp hiếm hoi, không thể nào diễn ra trên đất Mỹ được lần thứ hả Trong cái ồn ào, giao động của xã hội bên ngoài. Có ai
biết được trong một căn nhà khiêm tốn khu Brookhurst trên đất Mỹ lại có một người làm nhạc khác thường?


Giá trị tiếng đàn của ông ít ai biết thêm hơn ngoài ngoài những buổi đàn cho cải lương, đàn trên đài phát thanh mà tiếng ca được trọng hơn tiếng đàn. Tuy vậy, nó rất hiếm và tình yêu âm nhạc của ông không thể lường. Tuổi đời càng gìa, ông càng thấy nhớ và muốn thăm lại quê hương. Có lần ông cùng người vợ yêu qúi và ông anh ruột, đi thăm từ Rạch Giá đến mãi tận vịnh Hạ Long. Đi đâu ông cũng mang theo cây đàn để đàn trong phòng từ khách sạn nầy đến khách sạn khác, tự mình sống với âm thanh của mình. Có ai nghe và biết thì đến hòa đàn với ông. Không có thì phần thưởng âm thanh ấy là của ông.

Cái thân mật "mầy, tao" của Việt Hùng nói với ông ngày nào vẫn còn vẵng bên tai tôị Lão nghệ sĩ Việt Hùng ra đi. Tôi có dịp trở lại Cali vội vã đến thăm ông và nhắc ông một điều: "việc đó đã qua rồị Ông Việt Hùng đã đi, nhưng ông không được đi nhé". Ông mỉm cười. Tôi không muốn tiếp tục đau xót như đã từng đau xót về Anh Tư Việt Hùng. Nhận thấy sức khỏe ông khả quan, tôi rất mừng. Sau hôm tôi nói chuyện về nghệ thuật ngâm thơ ở báo Người Việt qua lời mời của Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ, cô Y Sa và luật sư Hạo Nhiên có mời ông đến dự buổi tiếp thân thân mật
cùng với chúng tôị Đi đâu, không khí văn nghệ đối với ông không thiếu vắng. Nhạc sĩ Tám Trí, Nguyễn Châu, và tôi hòa tấu thật nồng nhiệt. Những giao thoa qua tiếng đàn ghi-ta, kìm, tranh giữa chúng tôi chưa bao giờ nóng bỏng, nhiệt huyết như thế. Những chuỗi cười không ngăn được. Một niềm vui không biên giới.


Không ngờ hôm ấy là lần sau cùng chúng tôi được hân hạnh cùng hòa tấu với ông!! Nếu sinh, già, bệnh, chết là sự thật, thì ông cũng không thể thoát ra được cái qui luật ấỵ Tôi biết như thế. Nhưng sự mất mát nào cũng đem đến chúng ta một niềm đaụ Niềm đau càng đậm khi tình cảm càng nhiềụ Tin ông qua đời khiến tôi cảm thấy một mất mát lớn, không ngờ. Tôi sửng sốt, bàng hoàng. Trong cái tĩnh lặng của buổi chiều thu hôm nay, lòng tôi hướng về người qúa cố, nghĩ về ông như một viện bảo tàng âm điệu, một sức sống dài 74 năm không lay chuyển. Ngưỡng mong tinh thần ấy còn được sống mãi trong mỗi con người yêu âm nhạc dân tộc qua cơn bão thời gian. Xin dốc lòng truy niệm ông với nỗi nhớ thương vô hạn và niềm tôn quí.
 

Back to Top