|
Thái
Thanh: Tiếng Mẹ Sinh Từ Lúc Nằm Nôi
Thái Thanh sinh năm 1934, là em út
trong gia đình 5 anh em: anh cả là
Phạm Đình Sỹ (bà Phạm
Đình Sĩ là kịch sĩ Kiều Hạnh sinh ra
Mai Hương, Bạch Tuyết), anh thứ là
Phạm Đình Viêm tức Hoài Trung, chị là
Thái Hằng, anh thứ tư là Phạm
Đình Chương
tức Hoài Bắc. Quê ngoại Thái Thanh ở Sơn
Tây, còn cô ra
đời ở làng Bạch
Mai, Hà Nội. Năm 1946 cô theo gia đình
tản cư vào vùng Chợ
Đại, rồi Thanh Hóa là nơi
Thái Hằng kết hôn với nhạc sĩ Phạm Duy. Tháng 5, 1950 gia
đình cô cùng Phạm Duy bỏ vùng kháng
chiến về Hà Nội, sau đó vào ngay Sài
Gòn. Suốt những năm trường sau
đó cho đến khi Miền Nam bị mất, tiếng
hát Thái Thanh cùng nhạc Phạm Duy bay bổng khắp nơi.
Nhà văn Mai Thảo gọi giọng hát cô là “tiếng hát vượt
thời gian”. Quả thật cho đến trăm
năm nữa, tiếng hát này chắc vẫn còn ngự trị trong tâm tưởng
người dân Việt, sẽ còn vang vọng như
khúc quan họ giữa trời xuân.
Kết hôn cùng tài tử Lê Quỳnh năm 1956,
Thái Thanh và Lê Quỳnh có 5 người:
Ý Lan, Lê Việt, Quỳnh Dao tức Quỳnh Hương,
Thanh Loan và Lê Đại. Khi nói
đến
những văn nghệ sĩ, nhất là trường
hợp một nữ danh ca, ít ai để ý
đến khía cạnh Bà Mẹ trong
đời sống những phụ nữ này. Có tác giả
đã nói
đến
tấm lòng Bà Mẹ của Thái Thanh trong việc nuôi dưỡng
đàn con. Cô Thái Thanh
đã vượt
qua biết bao khó khăn, chịu
đựng biết bao vất vả
để giúp các con, nhất là hai người
con bé nhất, có được một cuộc sống
tốt đẹp. Bây giờ chúng tôi muốn nói
đến khía cạnh khác trong cuộc sống
của cô, một khía cạnh càng làm lớn con người
của Thái Thanh: Đó là nghị lực chống
chỏi với bất hạnh của cuộc sống. Cách
đây 4
năm (2000) cô bị một cơn tai biến
mạch máu não (strocke), mất hết trí nhớ. Nằm trong phòng mạch bác sĩ
cũng như khi
ở bệnh viện cô không còn
nhận biết ra người thân.
Đôi khi cô nhận ra Quỳnh Hương,
Ý Lan, đôi khi không.
Ở bệnh
viện về cô đã cố gắng tập luyện rất
nhiều để khôi phục trí nhớ. Mấy tháng
sau khi rời bệnh viện cô đã nhận biết
ra nhiều điều quen thuộc, nhưng
bài hát thì lẫn lộn lung tung. Không biết do nghị lực của chính
cô, sức sống mãnh liệt của chính cô, hay do phép lạ mà sau
đó trí nhớ cô hồi phục dần. Từ chỗ
không còn nhận ra người thân, cô
đã nhớ lại
được từng lời bài hát. Trong dịp
đón Thụy Khuê từ Pháp qua ở nhà Y Sa,
độ một năm
sau biến cố trên, Thái Thanh
đã
thấy “ngứa ngáy” muốn giúp cho buổi tối xum họp bạn bè thêm
đẹp, nhưng
cô đành chỉ hát
được vài câu
rồi thôi vì quên lời. Vậy mà đến ngày
“Lễ Của Mẹ” (Mother’s Day) năm 2004, ngày
“Thái Thanh và 3 thế hệ” ở Majestic, Thái Thanh
đã xuất hiện duyên dáng trong vai nữ
sinh áo dài trắng, nón lá, cắp sách
đến
trường mở
đầu buổi trình diễn với bài “Ngày Xưa
Hoàng Thị”, và hát một loạt bài sau
đó.
Chắc chắn Thái Thanh đã có một ý chí mãnh
liệt, thứ ý chí giúp cô sống qua những tháng năm ở Sài Gòn đen tối,
giúp cô chăm sóc các con trong cơn bệnh
hoạn ngặt nghèo, rồi giúp cô hát lại
được ở tuổi 70. Dưới đây chúng tôi xin ghi lại đôi lần chuyện
trò với cô trư ớc
và sau khi cô bị stroke:
Hỏi: Chị bắt
đầu
hát năm nào,
Chị còn nhớ bài hát đầu
tiên?
TT.: Không nhớ rõ, nh ưng về
tuổi thì tôi bắt đầu
hát từ năm 13, 14 tuổi.
Không nhớ rõ bài hát đầu
tiên trình diễn là bài nào nhưng chắc
chắn là của Phạm Duy. Hồi đó, năm tôi
14 tuổi, anh Phạm Duy cứ phải dùng tôi làm cái cái
cớ lấy điểm với
chị Thái Hằng, chị ruột của tôi. Năm
đó Thái Hằng khoảng 21 tuổi. Không lạ gì mà hồi đó đã có bài
“Dòng Sông Xanh” nhạc ngoại quốc, lời Việt. Ông Phạm Duy đã phải đặt lời Việt cho bài
“Dòng Sông Xanh” để
cho cô Thái Thanh bé xíu hát thì mới lấy điểm được với bà Thái Hằng.
Hỏi: Chị còn nhỏ vậy mà các cụ vẫn cho chị hát?
TT.: Bố mẹ tôi cũng là những nghệ sĩ ch ơi
đàn cổ như đàn
tranh chẳng hạn, nên cụ thông cảm. Dù không bị ngăn
cấm vì “xướng
ca vô loài” nhưng các anh em tôi đều được các cụ hướng
dẫn là cần nhất phải học hành trước đã, đàn địch là chuyện phụ
thôi, nhưng lúc chạy
loạn tôi không có cơ hội
học chữ nhiều nên có thể tự học ca hát.
Hỏi: Hồi x ưa kỹ
thuật còn thô sơ, phương tiện
không có nhiều. Chị có nghĩ là nếu hồi đó có được những phương
tiện và kỹ thuật như
bây giờ, Thái Thanh sẽ khác hơn
không?
TT.: Hồi đó
khi tôi hát, lúc tôi mười mấy tuổi, thì kỹ thuật
mình đã có gì đâu. Cái micro dài
thật dài và to bằng cả cái bàn tay mình. Nếu tôi đứng gần micro để tiếng hát phát ra
tốt hơn thì
khán giả không nhìn thấy tôi, còn nếu tôi đứng xa để khán giả thấy được khuôn mặt
tôi thì tiếng hát lại không còn rõ nữa. Nếu kỹ thuật được như
bây giờ thì hẳn là phải khác đi chứ. Nhưng
dù sao tôi vẫn có niềm hạnh phúc mà ít ai có được là từ năm
14 tuổi tôi bắt đầu hát với cái micro
to như thế cho
một nhóm khán giả nghe, đến
bây giờ gần 70 tuổi, tôi vẫn còn được
hát và thu vào CD để
gửi cho thính giả khắp thế giới nghe, nghĩa là hơn
50 năm sau tôi lại đư ợc dùng cái
technique mới cho giọng hát của mình. Hạnh phúc lắm.
Hỏi: Lần
đầu
tiên chị xuất hiện trước
công chúng là ở đâu, Hà
Nội hay làng quê?
TT.: Sure là ở làng quê vì hồi
đó
là lúc kháng chiến. Khi đó có những ban nhạc
hát cho công chúng ở vùng quê nghe. Lần đầu tiên tôi lên sân
khấu ở tuổi 14, mình còn bé xíu mà đứng
trước đông đảo bà con, nên
tôi cũng sợ lắm. Nhưng sau khi cất
tiếng hát, thì tiếng hát, âm nhạc làm tôi hết sợ mà còn cảm thấy hứng
khởi, hạnh phúc, vì lúc đó tôi được đứng trong ban
hợp ca gồm các anh các chị như Hoài
Trung, Hoài Bắc, Thái Hằng, những người
sau này thành ban “Thăng Long”.
Hỏi: Ban hợp ca Th ăng Long được
thành lập từ hồi đó?
TT.: Nói thế cũng được. Có thể nói “Thăng
Long” đư ợc
thành lập từ hồi kháng chiến, từ khi tôi còn nhỏ.
Hỏi: Sau này chị gia nhập
đoàn
kịch “Gió Nam”?
TT.: Ban hợp ca Th ăng Long
ở trong ban Gió Nam, tuy hai mà một. Lấy tên Gió Nam vì
chúng tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn rồi trở ra Hà Nội trình diễn, mang cái
gió miền Nam ra ngoài Bắc.
Hỏi: Chị có thấy là giọng chị hợp với nhạc Phạm Duy, hay là Phạm Duy
sáng tác để cho
chị hát?
TT.: Anh Duy lớn h ơn tôi mười
mấy tuổi, có lẽ muốn biết chính xác
điều đó phải
hỏi anh Phạm Duy. Tôi chỉ biết là kể từ bài “Dòng Sông Xanh” anh Duy đặt lời cho tôi
hát, thì anh đã
biết giọng hát tôi làm sao, sau đó những
bài hát của anh ấy sáng tác ra thường
do tôi hát đầu
tiên nên chắc là anh phải chọn sao đó
cho thích hợp với giọng hát Thái Thanh.
Hỏi: Bài “Dòng Sông Xanh” chị hát n ăm
14 tuổi, như thế
chị có phải tập luyện nhiều không?
TT.: Về chuyện tập luyện, lúc
đó mình
chưa có trường
“Quốc Gia Âm Nhạc”, chưa có ai mở
khóa huấn luyện hát (thanh nhạc), tôi chỉ có thể nghe đàn bài nhạc, và với
tuổi 14 mà tôi hát đước
bài đó, tôi nghĩ phần
lớn do thiên phú. Ngay cả chuyện phát âm, trước
hết tôi đọc lời
ca cho đúng, và
khi hát tôi phải phát âm như lúc tôi
đọc chứ không thể để chữ nọ xọ chữ kia,
giọng nọ xọ giọng kia. Tôi nghĩ rằng chuyện phát âm tiếngViệt một phần
tôi có được
cũng là chút năng khiếu
trời cho.
Hỏi: Một số bài hát chị có thêm thắt
đôi chút mà bây giờ người
ta gọi là “feeling”, chị có nghĩ đó là ưu điểm của
chị, là sự sáng tạo của chị, và nhạc sĩ liệu có hài lòng không? Thí dụ
như bài “Paris
Có Gì Lạ Không Em”, ở phần cuối chị thêm vào khúc “Lá La La Là Lá
La....”, chúng em cho rằng khúc hát thêm đó thật tuyệt vời, làm
sáng hơn cái chất
Paris trong bài hát. Thế nhưng liệu
nhạc sĩ có đồng
ý không?
TT.: Ở
đây phải
nói nhạc sĩ là tác giả chứ không phải người
chơi đàn. Tôi vẫn
nghĩ là tôi “feel” được
cái bài đó phải được phát âm
thế này, phải có cái đoạn
mà tôi tự thêm vào. Thường
thường tôi vẫn
lo rằng tác giả bài nhạc không bằng lòng với lối phát âm của tôi ở khúc đó, không bằng
lòng với đoạn
thêm thắt của tôi, nên tôi hay phone hỏi tác giả. Tôi nói rằng bài mà
tôi sắp hát của ông đây nếu
tôi trình diễn thêm như thế
này thì ông thấy thế nào. Hầu hết tôi nhận được lời khen của tác
giả và họ đồng
ý cái kiểu hát của tôi khiến bài hát hay hơn.
Hỏi: Về phía người
chơi đàn, ban nhạc đệm cho chị, có
khi nào đang hát chị
chợt thấy có cảm hứng và thêm vào, hay thay đổi cách diễn đạt, mà ban nhạc không
biết trư ớc
không?
TT.: Cái
đó thì
chưa xẩy ra bởi
vì bao giờ cũng phải tập với ban nhạc hoặc dặn dò nhau đôi chút. Muốn thêm
hay bớt điều gì đó đều phải được dự trù trước,
vì chính mình cũng phải nghe thử xem sự thêm bớt đó có hay không. Chưa bao giờ đứng trên sân
khấu mà tôi làm chuyện đó. Nhân nói về
chuyện đứng
trên sân khấu, có một lần tôi đứng
hát trước khán
giả, người đệm piano cho
tôi hát hôm đó là
nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi. Ông đã
chọn đệm cho
tôi với ton Ré majeur, mà nếu hát Do majeur thì vừa với giọng tôi hơn.
Khi tôi nghe intro, tức là khúc mở đầu mới có độ 3, 4 nốt của ông,
tôi vẫn đứng
yên tại chỗ và dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ làm thành hình chữ C ra
hiệu cho ông, ông đã
hiểu ý tôi ngay và chuyển từ Re xuống Do. Sau đó ông khen tôi: Tai của
Thái Thanh thính quá, mới nghe mấy nốt mà đã nhận ra là Ré,
không phải Do để
ra hiệu cho tôi.
Hỏi: Thế chị học nhạc lý ở
đâu? Đọc đâu đó có viết
là chị phải chui đầu
vào trong cái chum để
tập phát âm?
TT.: Nhạc lý cũng nh ư là xướng
âm tôi đã phải đặt mua sách từ
bên Pháp, theo đó tự
học, có gì khó thì hỏi anh Phạm Đình
Chương. Anh Chương là thầy
dậy tôi. Anh có lần nói: “Cô có cái đặc
biệt là trước
khi tôi dậy thì cô đã
biết rồi”. Còn chuyện chui đầu
vào chum thì không có đâu. Có lẽ
ai đó đã đoán thôi vì thấy
giọng tôi, cách phát âm của tôi khá mạnh nên họ nghĩ vậy. Cái giọng mạnh
này chắc cũng là do trời cho tôi.
Hỏi: Có thể nói 70% tài n ăng của
chị là do thiên phú?
TT.: Vâng, tôi cũng nghĩ nh ư vậy.
Trời cho tôi giọng, Trời còn cho tôi hai lá phổi rất rộng. Ý Lan có lần đã nói với tôi:
“Mỗi lần con nghe Mẹ hát, nghe Mẹ xướng
âm, con có cảm tưởng
như tất cả
buồng phổi của Mẹ đã
mở ra.” Đó cũng là
một điều thiên
phú. Nhưng có điều
tôi vẫn tâm niệm rằng trời cho mình cái gì thì mình phải ôm lấy nó, trân
trọng cái đó, nghĩa là
phải tập luyện để
giữ được nó, để làm lớn, làm
mạnh nó lên. Chú không thể cứ nghĩ thiên phú là không cần tập dượt,
và còn phải yêu nó nữa thì mới có những thành tựu.
Hỏi: Chị
đang nói về
thiên phú, vậy chị có nghĩ rằng một
điều khác trời cũng cho chị là đầu óc chị, tâm hồn
chị dễ dàng cảm nhận được
những gì tác giả các bài nhạc muốn gửi gấm, và chị đã dùng cái thiên phú đó để truyền đạt được tâm tình tác giả đến người
nghe? Nhiều người
có thể xướng âm
những dòng nhạc, những lời ca của nhiều tác giả, nhất là của Phạm Duy,
nhưng họ không
có cùng cái cảm xúc như chị,
họ không “cảm” được
như chị.
TT.: Tôi không biết chuyện tôi cảm thông
được với các tác giả
có phải là thiên phú không. Nhưng điều đầu tiên tôi
muốn nói về chuyện này là người
ca sĩ phải biết yêu tiếng nói của nước
mình, phải yêu tiếng Việt của mình. Người
ca sĩ còn phải yêu đất
nước mình nữa.
Khi trong bài hát có nói đến
những xứ sở, những vùng nào đó trên đất nước
mình, thì mình cũng phải cảm thấy yêu cả những địa danh đó nữa, Miền Trung,
Miền Nam, Miền Bắc. Đặc
biệt tôi sinh ra ở Hà Nội thì khi đọc đến hai chữ Hà
Nội tôi cảm thấy một tình cảm yêu mến vô bờ. Nếu mình không yêu chữ của
nước mình thì
giống như mình
hát một bài hát ngoại quốc vậy. Thí dụ đọc đến chữ “em bé quê” là
mình cảm thấy dào dạt tình thương yêu
các em nhỏ sống ở những vùng quê nghèo nàn, tôi
nói yêu chữ nước
mình là vậy. Còn một chuyện nữa là tôi yêu người
nghe, luôn luôn tôn trọng khán thính giả. Tôi rất thận trọng khi hát.
Hỏi: Th ưa chị,
về một trường
hợp cá biệt, khi nghe chị hát bài “Hương
Ca Vô Tận” của Trầm Tử Thiêng, khán thính giả thấy
chị hầu như đã
diễn đạt được hết cái tâm tình
của nhạc sĩ, trong đó có cả
phần tâm tình của chị. Có phải chị đã được tác giả
chia sẻ chút ít về bài hát đó?
TT.: Tôi đã hát bài đó của nhạc sĩ Trầm Tử
Thiêng cách đây nhiều
năm, khi chúng tôi còn
ở Việt Nam. Với ca sĩ được
làm thân, được
nói chuyện với các nhạc sĩ là điều
rất thú vị vì mình hiểu biết hoàn cảnh các bài hát hơn.
Khi nói chuyện với nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng tôi mới
biết ý của ông trong những lời ca. Trong bài có những câu như “Hát nữa đi
hương...”, nhiều khán thính giả tưởng
“hương” là tên
một người con
gái, nhưng có nói chuyện
với ông mới biết chữ “hương”
là ông muốn nói đến
“quê hương.”
Hỏi: Chúng ta qua một chuyện khác. Người đời thường
hay dè bỉu những bài nhạc đại
chúng, được đông đảo quần
chúng ưa thích vì
giai điệu, cấu
kết giản dị, dễ dãi. Họ gọi đó là
loại nhạc “sến”. Chị có nghĩ là nên gọi như
vậy không, nên phân biệt như
vậy không, và chị có hát những bài hát đó không? Chị có thích đặc biệt một
nhạc sĩ nào không?
TT.: Dùng chữ “sến”
để
chỉ nhưng bài nhạc đó là thiếu
lịch sự, và chắc chắn là tôi có hát những bài loại đó. Ngày xưa,
có một ông nhạc sĩ nay đã mất rồi, tôi không
nhớ rõ tác giả nào, nói với tôi thế này: “Thái Thanh ạ, nếu có một loại
nhạc gọi là nhạc sến thì tôi xin làm sến, vì Thái Thanh mới trình bày
một bài hát với hình ảnh đẹp đẽ quá, tươi
tắn quá, và nếu tôi là sến tôi sẽ may cái áo thật đẹp để mặc.” Còn bảo rằng
thích đặc biệt
một nhạc sĩ nào thì câu trả lời là không. Thích một bài hát nào thì tôi
hát bài đó với
tất cả tâm hồn, không cứ bài đó là
của ai. Thực ra cũng có thể nói là những bài của Phạm Duy, Phạm Đình Chương,
vì là những người
trong gia đình,
nên khi chúng chưa ra ngoài thính giả
thì tôi đã được nghe trong
gia đình, tôi đã được các ông ấy gọi ra để hát thử từng đoạn trước
khi tác phẩm hoàn thành, đương nhiên
những bài của hai ông ấy tôi hát nhiều.
Hỏi: Vậy thì cũng xin chia sẻ với chị kinh nghiệm này, hồi còn trẻ,
còn sinh viên, quả thực bọn em có thái
độ phân biệt với những
bài hát giai điệu
dễ dãi. Phải đợi đến khi nằm tù
ở Thanh Hóa 7, 8 năm trời,
lúc đó em mới
thấy hết giá trị của những bài bị gọi là sến kia. Lúc đó, giai điệu, lời ca
những bài đó sao thấm
thía đến thế.
Lúc đó nghe
“Nghìn Trùng Xa Cách” em không khóc như
khi nghe “Xuân Này Con Không Về”, hoặc nghe “Phố
Buồn” em cũng chỉ thấy sao xuyến như
nghe bài gì của Trúc Phương
có câu “đèn
khuya mắt đỏ...”
Lúc đó em mới
nhận ra những bài hát đó thực
sự là tiếng nói, tâm tình của đa số
người dân miền
Nam, của mọi người.
Bây giờ xin đi đến
một câu hỏi khác: Sau 1975, chị còn ở trong nước,
chị có hát không, chị sống như thế
nào?
TT.: Nói
đúng ra thì
tôi không hát. Lý do là vì khi người
Cộng Sản vào miền Nam, tôi thấy họ khác mình quá, cái gì cũng khác. Khác
hay hay khác dở thì tôi không bàn, nhưng
tôi thấy không có gì giống tôi, giống trước đây, thì tôi
không hát. Sau khi mời tôi không được
thì tôi “được”
họ cấm hát, thế thì tốt quá. Họ nói tiếng hát Thái Thanh là của “Ngụy”,
chứ không phải của họ. Tôi kể câu chuyện nhỏ này: Cô Kim Cương
mấy lần đến
nhà tôi ở đường
Cống Quỳnh, nói rằng “chị ở căn nhà
này chật hẹp, nóng nảy quá”, ngỏ ý muốn mời tôi đến ở cùng nhà với cô
ấy, vì tôi chỉ có một thân một mình, và cô ấy cho rằng tôi sống trong
hoàn cảnh khổ quá. Kim Cương ở một ngôi nhà lớn, có máy lạnh, nước
nóng nước lạnh.
Cô ấy khéo lắm, nói rằng “Không phải em mời chị đến để rồi yêu cầu chị hát đâu, từ ngày xưa
em đã tự bảo rằng chỉ cho tôi hát một ngày được như
Thái Thanh thì sau đó có phải chết tôi
cũng bằng lòng.” Cô ấy khéo thế đấy.
Nhưng tôi từ
chối viện lý do là tôi ở đâu quen đó,
lại gần chợ nữa, và tôi không làm việc nổi vì các
con tôi đều ở
xa, tôi nhớ chúng lắm chẳng bụng dạ nào đi hát cả. Còn về đời sống, tôi
cứ bán dần đồ đạc, nữ trang đi để mà sống
qua ngày vì tôi có làm gì ra tiền. Đến
bây giờ tôi rất hài lòng vì tránh được
mọi điều ép
buộc của nhiều người
lúc đó.
Hỏi: Bây giờ thì đến một câu hỏi khá
riêng tư không biết
chị có vui lòng trả lời không. Thực ra chị là người
của công chúng, chị có thể chia sẻ mọi điều với công chúng.
Câu hỏi thế này: Chị là người
duyên dáng, khả ái, có đôi tay đẹp,
nhất là đôi mắt
vô cùng thu hút, vậy không biết các chàng trai trẻ từ xưa
đến giờ bị chị thu hút đến thế nào, chị tiết
lộ được không?
TT.: Cô ca sĩ hay hát Trịnh Công Sơn,
cô Khánh Ly, trước ngày mất nước,
tức là cách đây hơn hai chục
năm, có lần nói
với tôi thế này: “Nếu cháu là chồng của cô, cháu đành phải để cô đi hát trước khán giả,
nhưng cháu sẽ
giữ hai bàn tay cô ở lại nhà, cháu không cho ai được nhìn hai bàn tay
ấy khi cô hát.” Còn chuyện các chàng trai trẻ, thì trong cuộc sống chúng
ta mấy chuyện đó cũng như nhau thôi.
Hỏi: Thí dụ trong ban Gió Nam có anh Trần Văn
Trạch, một người
trình diễn thành công rất mê chị?
TT.: Anh Trạch là một người
kín đáo, trước
khi mất anh ấy mới nói cho mọi người
biết anh ấy mê Thái Thanh. Tôi chỉ nhận thấy là anh ấy hay đến nhà chơi
với các anh các chị, và hay nhìn tôi. Lúc đó mình còn trẻ quá.
Thực ra cho đến
bây giờ chuyện tình cảm của Thái Thanh cũng kỳ cục lắm, phải nói thẳng
ra là “này cô Thái Thanh, tôi thế này, tôi thế nọ” thì Thái Thanh mới
biết, mới tin, vì khán giả yêu mình cũng biểu lộ như
vậy, làm sao mình biết được ai yêu mình thật,
ai mê tiếng hát của mình thôi. Có nói ra tận miệng thì tôi mới biết:
“ủa, vậy hở!”
Hỏi: Còn với những văn nghệ
sĩ miền Bắc gặp chị sau 75 thì sao, có cán bộ nào “nói thẳng” với chị
không?
TT.: Ai cũng thấy thái
độ
bất hợp tác của tôi thì còn cán bộ nào tìm đến nữa. Mà có “nói
thẳng” thì câu trả lời cũng không là “Me too” đâu đấy nhé. Với các
anh chị văn nghệ
sĩ như Văn Cao, Hoàng Cầm,... đều đến gặp tôi, đôi khi cũng nói để
cho mình vui lòng ấy mà, như anh Văn
Cao nói thế này: Nếu tôi còn trẻ thì thế nào cũng
xin cưới Thái
Thanh. Anh ấy bông đùa
như vậy nhưng
tôi cũng không dám trả lời “Me too!”
Hỏi: Chị nhớ một kỷ niệm nào ở
Đêm
Màu Hồng?
TT.: Kỷ niệm thì nhiều, nhưng có một
chuyện tôi nhớ mãi đến
bây giờ: Một hôm tôi hát bài “Kỷ Vật Cho Em” xong thì thấy mấy bà khóc.
Các bà ấy đều
có chồng, có anh em tử trận. Điều đó thật là day
dứt.
Hỏi: Năm 1985 chị
qua đến Hoa Kỳ,
mọi người vui
mừng đón tiếp
chị trong đêm
tái ngộ Thái Thanh ở hải ngoại, sau
đó chị không có hoạt động gì nhiều về văn
nghệ?
TT.: Sau
đêm đó, một số “bầu
sô” mời tôi hợp tác. Tôi không dám nhận lời nhiều vì lý do còn phải đi học ESL,
thời gian học này kéo dài mấy năm. Về
sau tôi chỉ ghi đĩa với
cô Thái Xuân (Trung tâm Diễm Xưa) vì
Thái Xuân chịu chiều theo ý tôi. Thí dụ mỗi CD thỉ có một mình tôi hát
chứ không xen lẫn nhiều người.
Tôi rất cảm ơn Thái Xuân vì
cô ấy đã cố
gắng làm mọi điều
theo yêu cầu của tôi, như có bài hát
tôi cần tiếng đàn
tay chứ không phải đàn điện thì dù tốn
kém mấy cô ấy cũng mua, khi thu băng
đôi khi tôi cần tiếng đàn harp, cô ấy cũng
chiều dù cho tiền thuê loại đàn đó cũng như tiền
trả cho người
chơi rất đắt. Trong một bài hát
nhiều khi cần cả mấy thứ đàn đó, nhưng đàn
tay vẫn là thứ tôi thích nhất, tiếng
đàn đó
“có lòng nhất”.
Chúng ta vừa mới
đọc
qua đôi điều
thú vị về Thái Thanh, người
ca sĩ lớn lao của đất
nước Việt Nam.
Gia đình cô còn
sản xuất những người
con nổi tiếng: Ý Lan, Quỳnh Hương,
Thanh Loan đã nổi tiếng trong giới nghệ thuật,
truyền thanh, Lê Việt đã
tốt nghiệp kỹ sư còn
nhất định lấy
thêm bằng bác sĩ y khoa, và đặc
biệt Lê Đại từ
một thanh niên bị tê liệt vẫn kiên trì học để tốt nghiệp đại học, đi làm trong dòng
chính của Mỹ. Tất cả những ý chí, tài hoa đó hẳn phần nào được Thái Thanh truyền
cho. Trong đêm
Thái Thanh và 3 thế hệ, đàn
con cháu xum vầy chung quanh, tất cả
đều cất lên tiếng hát ngợi ca Mẹ và Bà, ngay chàng
bác sĩ Lê Việt cũng đã
chứng tỏ là có một giọng ca truyền cảm, và một cung cách thật chân chất,
khiêm nhường.
Để kết thúc bài này, chúng tôi xin mượn
ít dòng của nhà văn Thụy
Khuê: “Chúng ta có nhiều nghệ sĩ sáng tác những nhạc khúc tuyệt vời với
ngôn ngữ thi ca, nhưng chúng ta có ít
ca sĩ thấm được
hồn thơ trong nhạc
bản. Đạt tới
tuyệt đỉnh
trong ngành trình diễn, Thái Thanh nắm vững cả bốn vùng nghệ thuật: nghệ
thuật truyền cảm, nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật thi ca và nghệ thuật
phát âm tiếng Việt, giữ địa
vị độc tôn
trong tân nhạc Việt Nam gần nửa thế kỷ: Thái Thanh Chẳng cần làm thơ
cũng đã là thi sĩ.
“Giữa những phôi pha của cuộc
đời,
tàn phai của năm tháng, giọng
hát Thái Thanh vang vọng trong bần trời thơ
diễm tuyệt, ở
đó đau thương và hạnh phúc quyện lẫn với nhau, người
ta cho nhau cả bốn trùng dương và mặc
tàn phai, mặc tháng năm, tiếng
hát vẫn bay bổng ở chốn trần gian hoặc ở vô hình.”
Phạm Duy
đã
chuyên trở lịch sử đất
nước Việt Nam, ưu tư về vận
mệnh dân tộc Việt Nam, về thân phận con người
Việt Nam trong những tác phẩm của ông. Thái Thanh đã truyền đạt mối ưu tư đó, sức nặng
lịch sử đó cho tất
cả chúng ta. Cô đã
nuôi dưỡng niềm
tin, lòng yêu nước,
tình người cho
nhiều thế hệ chúng ta. Xin cảm ơn
Thái Thanh và Phạm Duy.
Back to Top
|