Nói đến nhạc sĩ Nguyễn Văn Tường, chắc rất ít người Việt
biết đến, ngoại trừ một số nhỏ những người trong nghề nhạc cận đại. Nói
đến nhạc điện thanh (musique electro – acoustique / electro –acoustical
music), người Việt mình lại còn mù mờ hơn nữa. Vì sao ? Vì lẽ không có ai
nghe nói tới loại nhạc cận đại này. Người mình chỉ thích nghe loại tân
nhạc dễ nghe của Tây phương (musique de varietes – pop songs). Còn khi
nghe nhạc cổ điển Tây phương thì chỉ thích nghe nhạc của Bach, Mozart,
Beethoven, Chopin, và có giỏi lắm là nghe được nhạc của Debussy, Ravel hay
Stravinsky. Tôi chưa dám nói là nghe được nhạc thâp nhị bán cung (musique
dodecaphonique) hay nhạc chuỗi (musique serielle) của Schonberg, Webern
hay nhạc cận đại hơn của Messiaen, Xenakis, Boulez, v.v…
Nguyễn Văn Tường là ai ? Đã làm gì cho nhạc Việt ? Càng đặt nhiều câu hỏi,
thì càng không có câu trả lời. Đó là lý do chánh thúc đẩy tôi viết bài này
để giới thiệu cùng độc giả Việt một tài năng âm nhạc Việt Nam đã đóng góp
một cách âm thầm một số nhạc phẩm quan trọng về nhạc đương đại quốc tế và
nhất là về nhạc điện thanh, một bộ môn âm nhạc hoàn toàn mới lạ đối với
toàn thể dân tộc Việt. Anh cũng lặng lẽ ra đi vĩnh viễn vào năm 1996 tại
Pháp sau nhiều năm chống chọi với bịnh ung thư gan.
NGUYỄN VĂN TƯỜNG LÀ AI ?
Nguyễn Văn Tường sinh ngày 9 tháng 11, 1929 tại Saigon, là con trai thứ tư
trong một gia đình năm con. Hồi nhỏ, cả nhà không có ai là nhạc sĩ cả. Vào
khoảng 1940-45, trong nhà có ngưới anh cả biết đàn mandoline (măng cầm)
nên anh Tường học lóm cây đàn này, biết đàn mà không biết đọc một nốt
nhạc. Chỉ nghe bằng lỗ tai, rồi đàn những bài hát do Tino Rossi hát , hay
các bản nhạc Việt nghe trong chiền khu.
Năm 1947, mẹ anh Tường từ trần, gây một vết thương tinh thần khá sâu đậm
trong tim Anh. Anh cho là mất mẹ là mất tất cả. Nên anh quyết định ra đi
lưu lạc giang hồ đó đây trong xứ. Trong thời gian này, anh tự học đàn lục
huyền cầm (guitare espagnole / Spanish guitar) và hạ uy cầm (guitare
hawaienne / Hawaiian guitar) với những người bạn của anh như Đan Phú,
Nguyễn Ngọc. Đến năm 1949, anh quyết định sang Pháp, và nhờ người anh cả
tài trợ cho một năm đầu. Ngày 24 tháng 2, 1949, anh lên tàu Marechal
Joffre để đi sang Phàp. Tới Marseille ngày 18 tháng 3, 1949. Khi tới Pháp
, công việc đầu tiên là ghi tên học về điện tử ở trường Radio-electricite.
Đến cuói năm 1950, người anh cả viết thư sang gọi anh về vì không đủ tiền
để nuôi anh tiếp tục ăn học ở Pháp. Lúc đó , anh quyết chí tạo cho mình
một tương lai nên từ chối không trở về Việt Nam. Hết tiền đi học, nên anh
quay ra kiếm việc làm để tữ nuôi thân. Lúc đó anh mới có 21 tuổi. Cái may
mắn đầu tiên trong cuộc đời của anh là lúc đó có một ông già chuyên môn
làm những màn giúp vui trong các rạp hát bóng. Nên nhớ lúc đó, trong các
rạp hát thường hay có phụ diễn tân nhạc hay làm những màn ảo thuật giữa
phim thời sự và tuồng hát chánh. Anh đàn guitare espagnole (tây ban cầm)
để đệm cho ông già đó đàn hạ uy cầm. Tiền thù lao lúc đó là 1.000 quan cũ
(khoảng 1,50 Euro). Vật giá lúc đó còn rẻ lắm. Với số tiền 5.000 quan cũ
(khoảng 7,50 Euros), anh có thể sống trong một tháng. Anh bỏ học điện và
bắt đầu đi học solfege (ký âm pháp ) ở Conservatoire National de la
Musique de Paris (Trường Quốc gia âm nhạc Paris) với bà Marcelle Soulage
từ năm 1951 tới năm 1954. Rồi anh học hòa âm (harmonie) với ông Georges
Dandelot, học Fu-ga (fugue) với bà Simone Caussade và sáng tác
(composition ) với nhạc sư Darius Milhaud từ năm 1954 tới 1961.
Luật học nhạc ở Pháp là tuổi giới hạn để vào lớp composition (soạn nhạc,
sáng tác) là 26-27 tuổi. Muốn vô trường quốc gia âm nhạc Paris thường rất
khó, phải biết nhạc giỏi rồi mới thi vào. Chính ông Darius Milhaud thường
nói rằng phải viết nhạc hàng tấn mới hy vọng đậu vào trường và nhứt là
được nhận vào lớp của ông. Bài nhạc đầu tiên của anh viết theo nhạc ngữ
Tây phương cổ điển là bài « Les 4 Saisons » (Bốn mùa) dựa trên bài thơ của
một thi sĩ Trung hoa , ông Yao Shin Hsien được bà Patricia Guillermez dịch
ra tiếng Pháp. Lúc này anh Tường chịu ảnh hưởng nhạc Nhật nên âm hưởng của
thang nhạc Nhật toản khắp bản nhạc. Rồi anh thi đậu vào trường và học với
ông Darius Milhaud (một nhạc sĩ trong nhóm 6 –Groupe des Six)
Từ năm 1950 tới năm 1956, để sinh sống, anh đàn guitare espagnole và hạ uy
cầm trong các ban nhạc Pháp. Trong thời gian này anh có sáng tác một bản
nhạc được nhà xuất bản Sallebert in ra. Đó là bài « Les Arbres » , lời của
Claire Du Tranoy. Bài này không được nổi tiếng nên bị chìm trong quên
lãng.
Năm 1957 là năm quan trọng trong đời của anh Tường. Đó là năm anh cho ra
một dĩa hát 45 vòng với 4 bản nhạc nổi tiếng thời đó và hoàn toàn do anh
soạn hòa âm. Đó là dĩa « Je te promets » do Van Tuong and His South Sea
Rhythms do hãng dĩa Cubannacan số DC 60.202 phát hành ở Pháp. Trong dĩa
này anh Tường sử dụng cây hạ uy cầm. Năm 1957, cùng là năm anh thành lập
gia đình ở Pháp, và lại là nám Anh bắt đầu xin vào làm việc ở đài phát
thanh của Pháp (ORTF) (Office de la Radiodiffusion et Television
francaise). Từ đó anh làm việc cho tới ngày hưu trí vào năm 1989.
Giai đoạn 1957-61 là giai đoạn khó khăn nhất trong cuộc đời của anh vì anh
phải đ làm một ngày 8 tiếng , tối lại phải đi học nhạc ở trường quốc gia
âm nhạc. Tuy thế anh là người Việt đầu tiên đã được nhiều bằng cấp về âm
nhạc cho tới ngày hôm nay.
Tổng cộng bằng cấp về âm nhạc của nhạc sĩ Nguyễn văn Tường gồm có :
-
Licence d’harmonie avec mention tres bien (chứng chỉ hòa âm , hạng ưu)
của Ecole Normale de la Musique (Paris) năm 1955.
-
Premier Prix về Fugue của Trường quốc gia âm nhạc Paris vào năm 1959
-
Premier Prix về Contrepoint (Đối Điểm) của trường quốc gia âm nhạc Paris
vào năm 1960.
-
2èeme accessit về composition (sáng tác) của trường quốc gia âm nhạc
Paris vào năm 1960
Trong suốt thời gian học nhạc anh đã sáng tác một số bài bản đáng kể như :
-
Sonate pour violon et piano (1958)
-
Mouvement pour double orchestre a cordes (1959) (điệu cho 2 dàn nhạc dây)
-
Quatre pieces pour trio d’anches (1960) (4 bài cho ba cây kèn)
-
Danse du Dragon (1961) Long vũ bài soạn nhạc để thi ra trưòng với 170
trang viết cho 10 nhạc khí.
Năm 1960 anh được đỗi qua làm việc trong ban nghiên cứu âm nhạc của ông
Pierre Schaeffer, người cha của nhạc điện tử Pháp. Nơi đây anh bắt đầu học
hỏi thêm về nhạc điện tử và đã cộng tác với Groupe des Neuf (nhóm 9 nhạc
sĩ ) chuyên về nhạc điện tử để soạn một bản nhạc điện tử đầu tiên của Việt
Nam vào năm 1962. Đó là bài « L’eventail » (Cây quạt) đã được trình bày
tại Paris vào ngày 11 tháng 5, 1962.
Từ năm 1963 tới năm 1971, vì mãi lo làm việc trong ban nghiên cứu của ông
Pierre Schaeffer, anh Tường không còn thì giờ để sáng tác. Cho tới một hôm
, có một người bạn Pháp, ông Andre Gerard là nhạc trưởng đã nói với anh :
« Tường, comment ca se fait que tu n’as rien ecrit pour la musique ? Tu as
fait le Conservatoire. Et c’est un crime de ne pas composer. Tu dois
ecrire quelque chose pour la musique » (Tường, tại sao anh không viết gì
hết cho âm nhạc ? Anh đã học ở trường quốc gia âm nhạc. Và đó là một án
mạng nếu không sáng tác. Anh phải viết một cái gì cho âm nhạc chứ ). Thật
sự là trong khoảng thời gian 8 năm qua, tuy anh không có sáng tác gì hết,
nhưng anh đã có dịp nghe và gặp gỡ các nhạc sĩ á châu rất thường xuyên.
Anh đã thu thanh cho những chương trình nghiên cứu nhạc cổ truyền Á châu
như là nhạc Ấn độ với Chatur Lal, Ram Narayan, với hai ông Dagar chuyên về
hát Dhrupad của Ấn độ (1963), với hát Nô của Nhật (1964), với múa rối của
Rajasthan, Ấn độ (1965), và thường trao đỗi kiến thức âm nhạc với GS Trần
Văn Khê về các thang âm của nhạc Việt, về điệu thức, chuyển hệ. Anh lần
lần thấm nhuần các điệu hát hó của nhạc cổ truyền Việt Nam.
Sau câu nói của người bạn Pháp, anh Tường đã suy nghĩ nhiều về vai trò của
người sáng tác âm nhạc. Đã được đi học nhạc, đã có diễm phúc hơn nhiều
người Việt khác là được học với nhạc sư Marius Milhaud, thì không có lý do
gì mà để ru ngủ nguồn sáng tác nhạc trong tiềm thức của mình. Anh bắt đầu
viết ngay một tấu khúc tựa là « OCCIDENT-ORIENT » (Âu – Á) cho cây đàn
ondes Martenot, piano, và nhạc gõ (percussions) vào năm 1971.
Sự thành công của tấu khúc « OCCIDENT – ORIENT » tại Paris đã tạo sự chú ý
của bộ Văn Hóa Pháp. Năm 1972 , anh được bộ Văn hóa Pháp nhờ anh viết một
bài để trình diễn nhân dịp La Biennale de Paris. Bài đó tên là «Cộng tồn »
(Co-existence) cho 24 cây đàn (violons, altos, violoncelles, contrebasses,
percussions vả ondes martenot). Tôi đã có dịp đi nghe bản nhạc này trình
diễn lần đầu tiên tại La Cartoucherie,ở thành phố Vincennes , ngoai ô
Paris vào năm 1972.
Đây là lần đầu tiên anh Tường gột bỏ ảnh hưởng Nhật và đã thả hồn mình vào
thế giới nhạc Việt. Bài nhạc bắt đầu bằng ondes Martenot độc tấu với một
làn điệu theo điệu Quảng rất là « Tàu ». Làn điệu Tàu chỉ là một Leitmotiv
cho bản nhạc này được viết bằng một nhạc ngữ mới nhưng nghe không chướng
tai như đa số những bài nhạc đương đại vào thời đó. Anh Tường như tìm được
nguồn hứng , và một thích thú trong sáng tác.
Anh cũng đã sáng tác nhạc cho phim, hay viết những effets speciaux cho
những phim về nghiên cứu nhưng chỉ là những đoạn nhạc ngắn mà thôi.
Năm sau, 1973, nhóm nghiên cứu nhạc (Groupe de recherche Musicale) của đài
phát thanh Pháp đã nhờ anh viết một bài nhạc điện thanh dài độ 15 phút mà
thôi. Lúc này anh Tường đã quen với tôi nhiều (10 năm trao đổi về âm nhạc
mà chưa có dịp cộng tác từ năm 1963). Anh gặp tôi một hôm và đề nghị với
tôi để viết một bài « sur mesure » (đúng ni tấc) cho tôi vì anh nghĩ chỉ
có tôi mới có đủ tài năng đóng vai trò độc tấu cho nhạc khúc của anh. Bài
này anh đặt tên là « Về nguồn » (Retour aux Sources) cho băng nhựa, đàn
môi, đàn tranh, hát đồng song thanh, và muỗng. Khởi đầu từ năm 1973, anh
Tường và tôi mỗi tuần gặp nhau một lần làm việc liên tục 10 tiếng đồng hồ
trong phòng thu mà đài phát thanh cho mượn để tìm ý và thâu những âm thanh
của từng cây đàn vào băng nhựa. Từ đó mới chế biến qua hệ thống điện tử để
làm mất hình dạng âm thanh của mỗi tiếng đàn. Thế rồi một năm qua, vẫn
chưa xong, phải đợi tới cuối năm 1974 mới thành hình. Tổng cộng gần 2 năm
làm việc. Gần 1.000 giờ trong phòng thu. Bản nhạc thay vì dài 15 phút như
đã ấn định trở thành dài 70 phút. Hai anh em làm việc, bàn cãi, thảo luận
hàng giờ để tìm một ý nhạc. Đây là một bản nhạc điện thanh Á châu nói
chung và Việt Nam nói riêng, rất quan trọng vì là lần đầu tiên vận dụng kỹ
thuật tân kỳ về hiểu biết nhạc điện tử Âu châu để trở về nguồn (Á châu).
Nhạc phẩm điện thanh đầu tiên của Việt Nam được viết cho
một máy thu thanh 4 đường (pistes/ tracks) phát thanh ra 8 ống loa (haut
parleurs / loud speakers) 100 watts mỗi ống loa, thêm vào đó 3 máy vi âm
(microphones) cho tôi độc diễn cùng lúc trên sân khấu trên 3 hướng khác
nhau. Đồng thời với cả một dàn máy chiếu hình (diapositives /slides) chụp
những phẩm chất hóa học đủ màu để tạo những màu sắc kỳ lạ trên sân khấu.
Một phối hợp thính thị (audio-visuel) và một nghiên cứ không gian
(recherche spatiale /space research). Phải nhớ đây là vào cuối năm 1974.
Lúc đó chưa có ai nghĩ đến việc này. Trước cả Xenakis, và những nhà soạn
nhạc cận đại Tây phương.
Buổi ra mắt đầu tiên của bản này được tổ chức tại Champigny, ngoại ô
Paris, do nhóm 2è2M của nhạc sĩ Paul Mefano tổ chức vào ngày 1 tháng 2,
1975. Trong phòng diễn đầy cả người ngồi dưới đất. Anh Tường và tôi cùng
những bạn lo về ánh sáng, dàn cảnh hồi hộp, không biết phản ứng của người
nghe ra sao. Bài thì dài quá, 70 phút diễn không ngừng. Phải thuộc bài.
Vừa nghe nhạc đã thu sẵn trong băng, phải đối thoại với nó và tùy hứng
sáng tác tại chỗ với những nhạc khí như đàn môi, đàn tranh, muỗng, và hát
đồng song thanh. Tôi sợ làm không nỗi mặc dù đã tổng dượt hai lần. Sau khi
hát xong nốt nhạc chót phải kéo dài 20 giây, tôi muốn xỉu trên sân khấu vì
quá mệt. Những tràn pháo tay vang dậy khắp hội trường. Cả mọi người đứng
dậy vỗ tay hàng 10 phút vừa khen tôi , vừa khen anh Tường. Thật là ngoài
sức tưởng tượng của hai anh em. Một vinh dự cho nhạc Việt Nam. Một vinh
hạnh cho người sáng tác và người trình diễn. Chúng tôi vô cùng cảm động và
sung sướng Chúng tói đã ôm nhau, mắt rơi lệ, nghĩ rằng mình đã đi đúng
đường phụng sự cho âm nhạc Việt. Hơn nữa, chúng tôi vừa vạch một lối đi
cho nền nhạc Việt với một ngôn ngữ âm nhạc phù hợp với thế hệ điện tử của
bán thế kỷ thứ 20.
Hai tháng sau, chúng tôi đuợc mời diễn tại Musée Guimet, Paris quận 16
do cô Nicole Lachartre, hội trưởng của nhóm ACIC (Association des
Compositeurs et Interprètes contemporains / Hội những nhà soạn nhạc và
trình diễn đương đại). Lần này có ông Pierre Schaeffer, tất cả các nhà
nghiên cứu dân tộc nhạc học, các nhà soạn nhạc Pháp về nhạc cận đại
đến nghe. Trên 400 người trong một phòng chỉ chứa có 350 chỗ. Sự thành
công ngoài sức chờ đợi của hai anh em chúng tôi. Rồi bài này được
trình diễn lần thứ ba cùng trong một năm tại nhà Văn hóa (Maison de la
culture) ở Vichy vào ngày 6 tháng 9, 1975 nhân dịp một hội nghị về múa
quốc tế (Congrès de la danse internationale). Trong lịch sử âm nhạc
điện thanh, chưa bao giờ có một bài nhạc được trình diễn ba lần trong
một năm. Đó là chuyện hi hữu. Và đó cũng là niềm hãnh diện của hai an
hem chúng tôi.
Cũng theo chiều hường này, anh Nguyễn Văn Tường đã sáng tác năm 1977
một bản nhạc tựa là « Synthèse 1 » (Tổng hỡp 1) cho cây kèn saxo và
băng nhựa. Anh Tường đã lấy đề tài nhạc Nô của Nhật rồi nhờ một anh
nhạc sĩ Nhật thổi saxo tên là Ryo Noda tùy hứng thổi theo. Bài này
được trình bày tại Musée Guimet lần đầu ở Paris. Sau đó đước trình
diễn ở Tokyo và Londres (Anh quốc)
Năm 1979, anh Tường sáng tác thêm một nhạc phẩm khác lấy tựa là «
Synthèse 2 » cho 4 cây đàn : ondes martenot, piano, percussions, và
saxo cùng với băng nhựa. Bài này được trính bày ở Musée Guimet Paris.
Tại Festival de Musique Vivante (Đại hội âm nhạc sống) ở Clichy, ngoại
ô Paris, có một đêm dành cho những nhạc phẩm của Nguyễn văn Tường. Tôi
có dịp đi nghe buổi đó, và được dịp sống những giây phút cảm động qua
những bài nhạc cận đại của anh Tường.
Từ năm 1980 trở đi, anh Tường không còn sáng tác nữa. Tôi vẫn đến gặp
anh luôn. Có một hôm tôi đặt vấn đề với anh về vai trò sáng tác nhạc
của anh. Anh đâm ra bi quan, thối chí, không còn tha thiết gì với
nhạc. Anh cho rằng ngày hôm nay anh sống ở Pháp, anh không được gần
dân tộc của anh giống như cá thiếu nước, không thể lội được, không thể
sống được. Anh tìm lối thoát bằng cách nghĩ rằng mình đã là công chức,
lương bổng khá cao, không cần viết nhạc vẫn sống được. Từ đó sanh ra
chểnh mảng trong công việc sáng tác. Anh nói với tôi rằng người nấu
cháo ngon mà không có khách hàng để ăn thì nấu làm chi. Nếu một mai
kia, anh có mất đi trước khi dân tộc cần đến anh thì anh chỉ là người
lỡ thời, không được sanh đúng lúc. Anh buồn vì học nhạc mà không phụng
sự âm nhạc như anh mong mỏi.
Sự bi quan của anh làm tôi phẫn uất. Tôi cho rằng khi dân Việt Nam
chưa đủ trình độ hiểu biết nhạc cận đại, thì người viết nhạc vẫn phải
tiếp tục sáng tác , không có lý do và cũng không có quyền ngưng sáng
tác. Người sáng tác không thể ở trong tháp ngà của mình vì như thế là
tự chôn vùi cuộc đời của mình trong quên lãng. Muốn giáo dục quần
chúng về âm nhạc, dù rằng hôm nay dân Việt chưa hiểu nhạc của mình, có
thể 20 năm, 50 năm, hay 100 năm sau dân tộc Việt sẽ hiểu nhạc của
mình. Mình phải chứng tỏ cho dân tộc mình bằng những sáng tác được thế
giới chú ý, tạo một thế đứng trong vườn nhạc quốc tế. Vì mính có nổi
danh trên thề giới, dân mình mới bắt đầu chú ý tới mính. Ngày xưa Van
Gogh, hay Paul Gauguin thuộc phái hội họa ấn tượng (impressionnisme)
phải sống trong nghèo đói vì nghệ thuật của hai ông này chưa được ai
hiểu. Đến chừng họ chết đi, thế giới mới khám phá tài năng của họ.
Phải đợi tới năm 1984 tôi mới thuyết phục được anh Tường làm lại bài «
Về Nguồn » với những kỹ thuật nhạc khí mà tôi phát triển nhiều hơn.
Hai anh em làm việc với nhau trong một tháng. Và đứa con tinh thần đã
được khoát lên một bộ áo mới, xinh đẹp hơn, mặn mà hơn. Từ năm 1984
tới 1986, hơn hai năm, tôi đã dần dần khuyên anh Tường hãy trở về với
nhạc và nên sáng tác trở lại. Sáng tác cho anh trước, rồi hãy nghĩ cho
dân tộc Việt, hay cho nhân loại sau. Sáng tác là cả một sự tập luyện
trường kỳ. Có ý nhạc là một chuyện, nhưng phải ghi ý nhạc đó trên giấy
để lưu lại một vết tích. Dù có cất trong hộc tủ, nhưng phải viết. Năm
1989 anh Tường hứa với tôi sẽ sáng tác trở lại. Anh mua đàn synthe,
máy vi tinh, vv… nhưng bịnh ung thư gan bộc phát khiến anh phải vào
nằm nhà thương, bị mổ mấy lần , khiến anh không còn hơi sức để sáng
tác. Căn bịnh kéo dài mấy năm trời. Năm 1996 vào mùa xuân, anh nhắm
mắt lìa đời, mang đi theo giấc mộng còn dang dở: giấc mộng được trở về
quê hương và được giới thiệu nhạc của mình đến dân tộc Việt Nam. Anh
không thực hiện được nhưng tôi sẽ làm cho giấc mơ của anh thành hình
nếu hoàn cảnh cho phép tôi thực hiện điều đó trong tương lai.