Music Categories
Khảo Cứu
Ca Huế
|
|
| Sunday, 08 April 2007 | |
Tô Vũ
Ca Huế
Tính thống nhất trong dân nhạc Việt nam đã được thể hiện một cách tự nhiên và trong sáng, trước hết từ cái nội dung tâm hồn của người Việt nam, dù ở Lạng Sơn hay Cà Mau, luôn
luôn chung một niềm tha thiết với quê cha đất tổ, đến bờ tre bụi lúa,
cánh cò trên ruộng, con đò sang sông; cùng một niềm đau xót khi đất
nước bị cắt chia, dù ở thời Trịnh-Nguyễn hay ở thời thuộc Pháp; cùng
một niềm tự hào kiêu hãnh với khí phách của Bà Trưng, Bà Triệu xưa kia,
và với thế hệ trẻ ngày naỵ Tính thống nhất đó còn được chứng minh qua
hệ thống thang âm-giọng điệu, tức là cơ sở của ngôn ngữ âm nhạc mang
tính thuần nhất một cách cơ bản, qua hệ thống nhạc khí, tức là một
phương tiện chủ yếu để diễn đạt nội dung âm nhạc có tính phổ biến một
cách quán xuyến trên toàn đất nước...
Âm nhạc Huế xuất hiện- trong bức tranh toàn cảnh của nền văn hóa âm nhạc Việt nam thống nhất - như một mảng màu sắc đặc biệt, chứa đựng những chất tinh tuý nhất của phong cách miền Trung. Cũng phải lại hiểu rằng, tư "nhạc Huế" ở đây không phải chỉ để nói tới thứ âm nhạc lưu hành trong phạm vi cố đô hay trong phạm vi tỉnh Thừa Thiên cũ. Nói đến nhạc Huế, người ta thường liên hệ đến một phong cách âm nhạc mà phạm vi ảnh hưởng bao quát cả Quảnng Trị và Quảng Bình phiá ngoài cũng như Quảng Nam, Quảng Ngãi phiá trong. 1. Nhạc Lễ (bao gồm cả nhạc Cung đình và nhạc Rõi bóng) 1. Nhạc Lễ
Là nhạc sử dụng trong các nghi lễ đời sống phong kiến ngày trước. Thời Lê sơ, nhạc Cung đình và nhạc Lễtrong dân gian có sự khác biệt: Loại thứ nhất do các bộ Ddồng văn và Nhã nhạc trình tấu; loại thứ hai do ty Giáo phường quản lý. Với sự suy tàn của các triều đại về sau, đặc biệt dưới thời Pháp thuộc, nhạc Cung đình đã bị phân hóa mạnh mẽ: bộ phận gần gũi với lễ nghi đời sống nhân dân thì đồng hoá luôn với nhạc lễ dân gian. Cùng với âm nhạc Rõi bóng (tức là Chầu văn ở miền Trung), thành phần âm nhạc này dựa trên cơ sở chính là nhạc đàn: theo truyền thống từ nhạc Cung đình để lại, ở đây có hai hình thức: Đại nhac., gồm chủ yếu bộ gõ và kèn, và Tiểu nhạc, gồm chủ yếu các loại nhạc dây, nhiều nhất là dây gảỵ Bài bản nhạc Lễ sắp xếp theo những hệ thống chặt chẽ, tuỳ theo mỗi nghi thức lễ lạc, giống những liên khúc, tổ khúc ở nhạc mới, với những tên bài phần lớn chữ Hán Việt như Phẩm Tuyết, Tây Mai, Long Đăng, Long Ngâm (tiểunhạc), Ngũ lôi cổ, Đăng Ddàn, Mã Vũ (đại nhạc). Về giọng điệu, bộ phận nhạc này chủ yếu dựa trên các điệu thức Bắc, tức là những điệu thức cuả thang 5 âm thiên nhiên xây dựng theo vòng quãng 5 đúng.
2. Dân Ca
Thành phần DÂN CA trước hết bao gồm những điệu hay là những "giọng" hò. Có những điệu hò lao động như "hò khoan", "hò mái sắp" (còn gọi là "hò giã gạo"), và "hò hụi" đặc biệt của vùng Quảng Bình, có tiết tấu nhịp nhàng và linh hoạt với những khúc thức điển hình của các vế "kể" do một người "hô" và vế "xô" do nhiều người "ứng".Có những điệu hò trữ tình nổi tiếng của vùng sông Hương, đó là những điệu hò "Mái nhì", "Mái đẩy" có âm điệu vấn vương quấn quít, có khúc thức phóng khoáng như con đò lơ lửng trên sông, nói lên tâm tình của con người sống giữa thiên nhiên hiền hoà, "thơ mộng". Các điệu lý là những dân ca có khúc thức hoàn chỉnh, giai điệu gọt dũa và cân đối, giống như những điêụ điển hình trong hệ thống "Quan Họ". Nội dung các điệy lý rất gần với nội dung các câu ca dao tình tứ, đậm đà, duyên dáng: Lý Hoài Xuân, Lý Tử vi, Lý Tình Tang, Lý Năm canh... Khác với dân ca miền Bắc thường xây dựng trên thang 5 bậc thiên nhiên, ở các điệu lý cũng như trong một số điệu hò, ta thấy xuất hiện những biến âm rất đặc sắc. Ảnh hưởng của tiếng nói miền Trung hay là ảnh hưởng của các nhân tố nhạc Chăm ?Dù sao, đã có những nhà nghiên cứu nêu lên đặc điểm của thang âm điệu hò "Mái đẩy", xa với thang 5 âm thiên nhiên quen thuộc, mà lại gần với loại thang 5 âm bình quân, một loại thang phổ biến trong âm nhạc dân gian Indonesia và cũng là loại thang âm, theo chúng tôi, rất gần với chuỗi âm có thể thấy ở một loại kèn trong âm nhạc Chăm. Khác với hò, lý có tinh' giai điệu hoàn chỉnh và điêu luyện, "kể vè" miền Trung, cũng giống như vè miền Bắc, thực chất có thể xem như một lối nói nhịp nhàng và âm điệu hoá, thích hợp cholối diễn đạt tự sự để kể lại những câu chuyện có tình tiết, có đầu đuôi. Hò, lý, vè hoàn toàn thuộc phạm trù nhạc hát - trong truyền thống, nó không yêu cầu có nhạc khí phụ hoạ - vận dụng chủ yếu trên lối thơ 6-8 và các biến thể của thơ 6-8, nguồn gốc dân gian của nó thật trong sáng. 3. Ca Huế
Giữa "NHẠC LỄ" với tính chất cơ bản là nhạc đàn, xây dựng chính yếu trên hệ thống điêụ thức Bắc
có nhiều tiêu chuẩn của âm nhạc chuyên nghiệp, "cổ điển" và "dân ca" với tính chất cơ bản là nhạc hát, giọng điệu phát triển do nhiều nguồn tiếp thu, gắn liền với sinh hoạt nghệ thuật không chuyên trong dân gian, các điệu "Ca Huế" có một vị trí riêng cả về nguồn gốc và tính chất. Một số điệu ca Huế như "Phẩm tuyết", "Long ngâm", "Ngũ đối"... thưc. chất là những tiết mục nhạc lễ được đặt lời ca, mang âm hưởng điệu thức Bắc rõ rệt. Một số điệu như "Nam bình", "Nam ai", "Tứ đại cảnh" thì lại gần với một số câu hò, lý về âm điệu và điệu thức, có dấu vết ảnh hưởng của âm nhạc Chăm. Lời ca Huế, nói chung, không xây dựng trên cơ sở thơ 6-8 hoặc vè, mà lại gần như một thứ lời tự do (trong các bài ca gốc nhạc lễ), chứng tỏ phương háp vận dụng ở đây là lối phổ lời (trên một điệu nhạc có trước), hoặc giống lối sắp đặt của "từ khúc" (một lối thơ tự do theo truyền thống cổ với mục đích để phổ nhạc lên thành bài hát) như các điệu "Nam ai, Nam bình, Tứ đại cảnh".
|
| < Prev | Next > |
|---|
Music Categories
Khảo Cứu
Ca Huế 

